[Discovery] Khám phá những điều thú vị về các loài động vật có thể bạn chưa biết

Bộ lông đặc biệt của chuột trũi

Chuột chũi

Mỗi sợi lông trên cơ thể chuột trũi đều được đặt vào trong một túi chất dịch, cho phép chúng có thể hướng theo bất kì hướng nào. Đó là một cách thích nghi tuyệt vời khi chuột trũi sống trong hang tự đào rộng vừa đủ kích thước cơ thể của chúng và chúng có một cách di chuyển trong hang là bò vào và bò ngược trở ra. Bộ lông với khả năng khí động học thay đổi theo bất kì hướng di chuyển nào khiến cuộc sống của chúng trở nên dễ dàng hơn nhiều.

Côn trùng có máu không?

Một số động vật cao cấp như lợn, bò, ngựa, gà, vịt, thậm chí như con người đều có máu đỏ tươi. Còn động vật cấp thấp như tôm, dế, châu chấu, chuồn chuồn… trong cơ thể của chúng cũng có máu không ngừng tuần hoàn, nhưng lại trong suốt hoặc có màu khác.

Đó là vì trong máu của những côn trùng này chỉ có tế bào giống như huyết cầu của động vật cao cấp, mà thiếu mất hồng huyết cầu. Do không có hồng huyết cầu cho nên không có huyết sắc tố. Vì thế, máu của những loài động vật này không phải là màu hồng. Có côn trùng mang dòng máu xanh hoặc màu vàng, là do trong huyết tương của nó có chứa sắc tố vàng hoặc xanh.

Khám phá những điều thú vị về các loài động vật có thể bạn chưa biết

Gọi là máu nhưng thực ra chúng có tên là hemolymph, xuất hiện từ cách đây 500 đến 600 triệu năm khi mà con người là côn trùng còn chung một tổ tiên. Hemolymph có chứa chất đồng chứ không phải sắt như trong máu người nên có màu xanh dương hoặc xanh lục khi bị oxy hóa.

Hemolymph không có chức năng vận chuyển oxy bởi vì quá trình hô hấp thông qua da của côn trùng giúp chúng hấp thụ đủ lượng oxy cần thiết. Điều này đồng nghĩa rằng chúng có hệ thống tuần hoàn đơn giản hơn nhiều. Tim của côn trùng đập chậm hơn nhiều so với con người và thậm chí chúng có thể rơi vào trạng thái “ngủ” để duy trì năng lượng.

Axolotl (khủng long 6 sừng) không thể trưởng thành

Khủng long 6 sừng là loài lưỡng cư quyến rũ, có dáng vẻ và điệu bộ giống như những con quái vật nhỏ bé thời tiền sử. Đầu của nó to lớn, mắt không có mí, chân chưa phát triển hoàn toàn và có móng dài mỏng. Con đực có đặc điểm là bộ phận sinh dục phồng lên với những nhú, còn con cái dễ được nhận biết nhờ thân mình to lớn hơn con đực, có đầy đủ chân. Phía sau đầu của nó mọc 3 cặp cuống mang, giống như những cái sừng (nên nó còn có tên là khủng long 6 sừng), có chức năng hút khí ôxy từ nước. Khủng long 6 sừng thở bằng mang. tại nhiều nước trên thế giới, con vật này thường được nuôi làm cảnh trong nhà, hoặc được dùng cho các mục đích nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm. Có một điều ít người được biết là những thổ đân ở mexico từ thời đại tiền Aztec thường bắt nó nướng lên làm thức ăn.

Khám phá những điều thú vị về các loài động vật có thể bạn chưa biết

Khủng long 6 sừng là dạng ấu trùng của loài kỳ giông, nhưng lại khác với những động vật lưỡng cư khác ở chỗ, nó có khả năng sinh sản ở trạng thái ấu trùng. Điều kỳ lạ ở loài này là chúng giữ lại những đặc điểm từ giai đoạn ấu trùng trong suốt thời kỳ trưởng thành.

Loài cú không thông minh

Khám phá những điều thú vị về các loài động vật có thể bạn chưa biết

Loài chim cú có bộ mặt trông khá ngờ nghệch. Và sự thật thì chúng cũng không hề thông minh chút nào. Với đôi mắt khá to nhưng bộ óc chúng thì không hề to như vậy. Với khung sọ nhỏ có rất ít không gian cho não bộ, trong khi chúng phải xử lý một lượng rất lớn dữ liệu hình ảnh, nên loài cú có suy nghĩ không hề nhạy bén. Nếu cần huấn luyện loài cú để làm những nhiệm vụ đơn giản nhất thì đây là điều không tưởng. Gary Gero, một nhà huấn luyện cú đã tham gia hợp tác sản xuất bộ phim Harry Potter đã nói rằng nếu người nào cho rằng cú rất thông minh thì chắc chắn họ chưa hề nuôi chúng bao giờ.

Tảo “hủy diệt” Taxifolia

Tảo Caulerpa taxifolia còn được mệnh danh là “kẻ hủy diệt” dưới đại dương. axifolia là một loài rong biển sinh trưởng mạnh mẽ, sản xuất ra một chất độc mà làm các sinh vật biển khác không thể ăn được chúng. Vì vậy, khi được thả vào trong môi trường phù hợp chúng có thể sinh sản rất nhanh và phá vỡ cân bằng hệ sinh thái. Nó được gọi là “Tảo giết chóc”, và bị Hiệp hội Bảo tồn Thế giới đưa vào “Danh sách 100 loài ngoại lai xâm hại tồi tệ nhất thế giới”.

Khám phá những điều thú vị về các loài động vật có thể bạn chưa biết

Vào năm 1984, các nhà hải dương học đã phát hiện ra loài tảo nguy hiểm này dưới đáy biển ở Công quốc Monaco. Trong gần ba thập niên qua, tảo Caulerpa taxifolia đã hủy diệt 15.000 hecta thực vật dưới đại dương dọc theo các bờ biển thuộc vùng đông nam nước Pháp. Không chỉ tại Pháp, mà nhiều vùng biển của các nước ở khu vực Địa Trung Hải gồm Italia, Tây Ban Nha, Croatia và Tunisia đều bị loài thực vật ký sinh này tấn công.

Trong một cuộc khảo sát mới đây dưới đáy đại dương ở một vùng biển đông nam nước Pháp, các nhà hải dương học đã ngạc nhiên khi phát hiện khoảng 80% số tảo Caulerpa taxifolia tại đây đã biến mất. Hiện nguyên nhân của hiện tượng lạ này vẫn chưa được xác định. Một số giả thuyết đã được đưa ra, trong đó có việc cho rằng loài tảo xích đạo này tự hủy diệt do nhiệt độ ở vùng biển này ngày càng giảm.

Loài chim có tay

Hoatzin ( Danh Pháp Khoa Học: Opisthocomus hoazin), còn được gọi là Hoactzin, Stinkbird, hoặc Pheasant Canje, là một loài chim nhiệt đới được tìm thấy trong các đầm lầy, rừng ven sông và rừng ngập mặn của Amazon và đồng bằng sông Orinoco ở Nam Mỹ. Điều đáng chú ý giống loài gà có móng vuốt, giống như các loại động vật có vú khác.

Khám phá những điều thú vị về các loài động vật có thể bạn chưa biết

Chim hoatzin thực sự là một loài chim trông khá “trải chuốt” nhưng khị bị con người tấn công chúng có thể thải ra mùi hôi thối kinh khủng. Có một số ít loài chim khi ấp trứng có móng vuốt trên cánh, nhưng hoatzin có móng vuốt trên cánh và chân lại vì một mục đích khác.

Chim non rất hiếu động và sử dụng cặp vuốt trên mỗi cánh để bám khi di chuyển trên cây. Nếu chúng rơi xuống nước, chúng cũng có thể bơi tốt. Trên thực tế chỉ có thứ chúng không giỏi đó là khả năng bay. Chim non phải đợi vài tháng để phát triển hoàn chỉnh mới có thể bay được và khi trưởng thành thì chúng cũng vô cùng lóng ngóng vụng về mỗi khi cất cánh.

Loài Siphonophores bí ẩn

Siphonophores là một loại động vật mang vẻ đẹp lạ lùng, trông chúng giống như những bông hoa của đại dương. Loài vật này sống nhiều nhất ở vùng biển thuộc Bồ Đào Nha, tuy nhiên nó lại là một trong những sinh vật nổi tiếng nhất đại dương bởi sự điệu đà trong màu sắc của mình. Một trong số những loài thuộc Siphonophores là những động vật dài nhất thế giới, có chiều dài lên đến 40 mét. Đa số loài Siphonophores dài và mỏng, nhìn trong suốt. Một loài biến thể khác của Siphonophores khi sống ở những vùng nước sâu và tối thường có màu da cam hoặc đỏ.

Khám phá những điều thú vị về các loài động vật có thể bạn chưa biết

Một con Siphonophore không phải là một sinh vật đơn độc, mà là một quần thể tập hợp chung nhiều cá thể nhỏ gọi là zooids, mỗi zooid có những nhiệm vụ riêng (như tự vệ, sinh sản, ăn..) để góp phần vào cả quần thể. Chúng phải dựa vào nhau để thực hiện tất cả chức năng sinh tồn. Dẫu tất cả chúng có thể tách rời khỏi quần thể, nhưng toàn bộ con siphonophore vẫn phát triển từ một trứng độc lập.

Khám phá những điều thú vị về các loài động vật có thể bạn chưa biết

Vậy chúng là một sinh vật hay là nhiều sinh vật. Câu trả lời rõ ràng cho vấn đề này vẫn làm khó các nhà khoa học. Nếu nhìn từ xa trông chúng có vẻ giống như một sinh vật độc lập, nhưng nếu nhìn gần vào bạn có thể chúng được tạo thành từ nhiều phần khác biệt. Bởi vì chúng nằm ở ngay trên ranh giới giữa cơ thể độc lập và một sinh vật đa bào phức tạp, siphonophore có thể nắm giữ nhiều đầu mối khoa học vô cùng quan trọng về tiến hóa.

[Discovery] Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Và có thể phải rất lâu nữa con người mới đặt được bàn chân đầu tiên lên một hành tinh gần nhất vì những trở ngại về kỹ thuật dưới đây.

1. Phá vỡ giới hạn ánh sáng

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Nhiều câu chuyện khẳng định một cách vô căn cứ về khả năng vượt qua tốc độ ánh sáng. Nhưng giới hạn vật lý không cho phép điều đó xảy ra. Thậm chí còn chưa thể đạt được tốc độ gần bằng ánh sáng nữa.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Giải pháp duy nhất mà chúng ta nghĩ đến là du hành qua Lỗ Giun. Nhưng một công cụ như vậy cần có một nguồn năng lượng rất lớn đến tạo ra, và cần được kiểm soát chặt chẽ. Tất cả đều thách thức đối với kỹ thuật hiện đại ngày nay. Tệ hơn nữa, nếu chúng ta đã có một Lỗ Giun thì một hiệu ứng vật lý thứ hai lại cản trở những chuyến du hành đầu tiên vì bất cứ vật thể nào lọt vào miệng Lỗ Giun đều bị phân tách thành từng nguyên tử nhỏ. Khi tới đầu bên kia của nó, bạn chỉ tồn tại dưới dạng Plasma.

Lỗ Giun được kiểm soát an toàn

Lỗ Giun được kiểm soát an toàn

2. Dịch chuyển tức thời

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Một phương pháp khác được cho là dễ dàng và giá thành rẻ hơn là Dịch chuyển tức thời có nghĩa là một người biến mất ở vị trí ban đầu và hiện ra ở một nơi rất xa trong tích tắc. Trên thực tế không phải như phim ảnh. Nếu có một chiếc máy có khả năng tháo rời từng cơ quan con người thành các nguyên tử để gửi chúng tới đích thì việc lắp ráp đúng như cũ lại là một khó khăn không nhỏ.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Ngôi sao gần Mặt Trời nhất cũng đến 4 năm ánh sáng vì vậy các nguyên tử cũng phải mất ít nhất 4 năm dạo chơi ngoài không gian đầy mối đe dọa và rủi ro là cực kỳ cao. Ai mà biết cái máy thứ hai ở ngôi sao kia có phá hủy phiên bản gốc để tái tạo ra một con người hoàn toàn mới hay không. Nhiều người sẽ không thích việc một bản sao khác thế chỗ mình như vậy.

Nguyên tử phải trải qua một thời gian dài chịu rủi ro ngoài không gian

Nguyên tử phải trải qua một thời gian dài chịu rủi ro ngoài không gian

3. Con tàu thế hệ

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Nếu đi nhanh hơn tốc độ ánh sáng là việc không tưởng thì chúng ta sẽ đi với tốc độ “rùa” bằng một con tàu Thế hệ. Mặc dù, chỉ mất 4 năm ánh sáng có thể tới được ngôi sao gần nhất thì chúng ta sẽ tốn gấp nhiều lần thời gian đó – có thể hàng trăm năm. Với tốc độ ngày nay phải mất 30 năm một con tàu vũ trụ mới tới được rìa của hệ mặt trời, 6 tháng để tới sao Hỏa.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Một con tàu lớn sẽ là nơi lý tưởng cho nhiều thế hệ con cháu chúng ta sinh ra và lớn lên cùng nhau chờ đợi ngày cập bến. Tuy nhiên, chúng có thể quên mất sứ mệnh ban đầu của tổ tiên như một huyền thoại sau từng ấy thời gian. Để khắc phục, sẽ có một hệ thống máy tính thông minh thường xuyên nhắc nhở và giáo dục cháu chắt chúng ta hàng trăm năm nhưng rất khó dự đoán được điều gì sẽ xảy ra.

4. Con tàu Trứng

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Để loại bỏ rủi ro mắc phải khi nhiều thế hệ quên mất nhiệm vụ thì người ta nghĩ ra một con tàu mang tên Tàu Trứng thay thế. Tại đây, quá trình thụ tinh đông lạnh sẽ được máy móc thực hiện đúng thời điểm từ những quả trứng gửi lên từ Trái Đất từ hàng trăm năm. Chúng sẽ phát triển thành con người đúng lúc  con tàu cập bến hành tinh xa xôi kia và máy tính sẽ dạy dỗ và giáo dục chúng biết về cách thức sinh tồn và về sứ mệnh cao cả của loài người.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Tuy nhiên, như thế không không giải quyết được khao khát du lịch xuyên không gian của một cá nhân vì con người kia sinh ra cũng là lúc chúng ta chỉ còn là cát bụi.

5. Tuổi thọ

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Đã vậy, các nhà khoa học tiếp tục nghĩ tới giải pháp kéo dài tuổi thọ con người lên hàng trăm năm để không bị những hậu quả như trên tàu Thế hệ và tàu Trứng. Sự bất tử vẫn được nghiên cứu nghiêm túc nhưng trở ngại lớn nhất là telomere – phần chóp của các ADN, chúng bị bào mòn mỗi lần phân chia tế bào. Đến khi đoạn telomere này mất đi thì các tế bào cơ thể sẽ bị lão hóa và chết. ADN giới hạn số lần phân chia tế bào chúng ta. Nhưng đó là quá trình cần thiết để cơ thể tự sửa chữa, phục hồi sau những tổn thương. Chỉ có một loại tế bào có khả năng kéo dài vô tận đoạn ADN giới hạn tuổi thọ này là những tế bào ung thư.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

6. Bảo quản

Trong nhiều bộ phim, con người vẫn sử dụng phương pháp bảo quản cơ thể trong dung dịch lỏng suốt chặng đường dài. Mọi người sẽ ngừng phát triển trong trạng thái đó hoặc sẽ rất chậm giống như ngủ đông ở động vật.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Thật không may, tác dụng của telomere lại cần thiết trong trường hợp này. Cơ thể chúng ta luôn luôn chứa một lượng nhỏ chất phóng xạ ở mức vô hại vì các tế bào liên tục được thay thế khi bị tổn thương. Nếu có một người trong tình trạng bảo quản sâu như trên thì các telomere của anh ta không thể rút ngắn lại được và tế bào không được phân chia. Bất kỳ một nguyên tố phóng xạ nào được giải phóng cũng có thể đủ thời gian để gây tổn thương vĩnh viễn cho cơ thể và dẫn tới tử vong.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Thậm chí quá trình lão hóa cũng không theo kịp thiệt hạido phóng xạ gây ra. Chúng ta lại muốn tế bao được phân chia và lớn lên một cách bình thường.

7. Động cơ đẩy

Nếu các vấn đề trên được giải quyết thì con người lại đối mặt với động cơ đẩy tàu hoàn hảo. Một hệ thống đẩy tên lửa truyền thống để đốt cháy nguyên liệu không thể sử dụng để du hành một quãng đường xa xôi. Do đó, chúng ta phải tiếp nhiên liệu trên đường đi. Giữa các khoảng không gian đều dồi dào hidro nhưng không có trạm đỗ an toàn để nạp chúng.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Với tốc độ nhanh như thế, chúng ta chỉ có thể vơ vét từng nguyên tử hidro một cho vào lò phản ứng hạt nhân (nếu kỹ thuật đã cho phép tạo được một lò phản ứng an toàn). Và để làm được điều đó, chúng ta cần một cái “muỗng” lớn và tính sơ cũng ít nhất có diện tích 2000 km vuông. Cái muỗng đó sẽ làm tê liệt con tàu và làm chậm bước tiến của chúng ta. Do đó, việc này không khả thi và không hiệu quả nếu tàu đi vào vùng không gian nghèo hidro.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

8. Nguy cơ

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Ngôi sao Alpha Centauri chỉ cách Mặt Trời 4 năm ánh sáng nhưng nếu đi với tốc độ 60km/h thì phải mất 72 triệu năm để nhìn thấy hành tinh đầu tiên ở đó. Vượt qua từng ấy thời gian, không máy móc nào là không hư hỏng, rỉ sét và trở thành đóng sắt vụn khi chưa kịp tới nơi.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Tốc độ là cần thiết ngay cả khi bị giới hạn bởi vận tốc ánh sáng. Các nguyên tử nhỏ rải rác khắp không gian, bất kỳ một con tàu nào di chuyển nhanh đều bị va chạm và bào mòn, ngay cả với chất liệu tốt nhất. Một lỗ kim nhỏ cũng nguy hiểm với con tàu không gian hiện đại và phải huy động một lực lượng hùng hậu để thường xuyên sửa chữa chúng. Hoặc đơn giản con tàu phải làm từ nguyên liệu “sống” có khả năng tự chữa lành như thằn lằn. Tin tốt là NASA đã tiến hành nghiên cứu một nguyên vật liệu như vậy còn tin xấu là họ nghĩ dự án đó là không khả thi.

9. Con người

Cấu trúc cơ thể chúng ta phụ thuộc vào trọng lực. Khi con người sống lâu trong môi trường khác lực hút Trái Đất thì cơ thể bắt đầu bị ảnh hưởng. Sau 1 vài tuần hoặc vài tháng, xương của chúng ta trở nên giòn và cơ bắp thì mệt mỏi với nhiều triệu chứng khó chịu khác.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Thời gian luyện tập thể dục chiếm phần lớn thời gian trong ngày cùng chế độ ăn đặc biệt nhưng sau nhiều thập kỷ cơ thể con người chắc chắn bị tổn hại vĩnh viễn. Ngay cả đối vói các chuyến bay tương đối ngắn thì thị lực vẫn bị suy yếu đến nỗi NASA coi đó là trướng ngại cần vượt qua trước khi thực hiện nhiệm vụ đưa người lên sao Hỏa.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Thay vì sống trong trạng thái vô trọng lượng, ta có thể tăng lực hấp dẫn bằng cách quay tàu vũ trụ quanh một trục. Thật không may, điều này đòi hỏi một lượng năng lượng và nhiên liệu lớn và sẽ gây tình trạng buồn nôn trong thời gian ngắn cho các du hành gia. Còn những ảnh hưởng lâu dài vãn chưa được nghiên cứu thêm.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

10. Thực phẩm, không khí và nước

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Bất kỳ một điều kiện nào giải quyết được thì con người trên tàu vũ trụ vẫn cần ăn, uống, hút thở, đi tiểu, bài tiết và giấc ngủ. Trong thời gian quá lớn, đây là vấn đề nghiêm trọng nhất gây khó khăn cho chúng ta.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Giải pháp có thể làm được là biến con tàu thành một hệ sinh thái khép kín. Các nhà máy sẽ sản xuất không khí, thức ăn, và tiêu thụ chất thải. Dù các hệ sinh thái hơi kém hiệu quả nhưng nó có thể duy trì sự sống đủ dài khi đến đích. Trang thiết bị của tàu sẽ dần bị phân hủy bởi các loại khí tái chế nhưng sự bảo trì thông minh hoặc các vật liệu mới sẽ tự sửa chữa.

Những công nghệ tương lai cần thiết giúp con người làm chủ vũ trũ

Tảo là đối tượng nghiên cứu tiềm năng trong việc cung cấp không khí, thực phẩm và giải quyết chất thải. Nó không phải nguồn dinh dưỡng hoàn chỉnh và độc hại nếu ăn với số lượng lớn nhưng kỹ thuật di truyền có thể thay đổi điều đó trong tương lai.

[Technology] Big Data là gì và người ta khai thác, ứng dụng nó vào cuộc sống như thế nào?

big-data-image.

Big Data là thuật ngữ dùng để chỉ một tập hợp dữ liệu rất lớn và rất phức tạp đến nỗi những công cụ, ứng dụng xử lí dữ liệu truyền thống không thể nào đảm đương được. Tuy nhiên, Big Data lại chứa trong mình rất nhiều thông tin quý giá mà nếu trích xuất thành công, nó sẽ giúp rất nhiều cho việc kinh doanh, nghiên cứu khoa học, dự đoán các dịch bệnh sắp phát sinh và thậm chí là cả việc xác định điều kiện giao thông theo thời gian thực. Chính vì thế, những dữ liệu này phải được thu thập, tổ chức, lưu trữ, tìm kiếm, chia sẻ theo một cách khác so với bình thường. Trong bài này, mời các bạn cùng tìm hiểu về Big Data, các phương thức người ta dùng để khai thác nó và nó giúp ích như thế nào cho cuộc sống của chúng ta.

1. Định nghĩa Big Data

Như đã nói ở trên, Big Data (“dữ liệu lớn”) có là tập hợp dữ liệu có dung lượng vượt mức đảm đương của những ứng dụng và công cụ truyền thống. Kích cỡ của Big Data đang từng ngày tăng lên, và tính đến năm 2012 thì nó có thể nằm trong khoảng vài chục terabyte cho đến nhiều petabyte (1 petabyte = 1024 terabyte) chỉ cho một tập hợp dữ liệu mà thôi.

Vào năm 2001, nhà phân tích Doug Laney của hãng META Group (bây giờ chính là công ty nghiên cứu Gartner) đã nói rằng những thách thức và cơ hội nằm trong việc tăng trưởng dữ liệu có thể được mô tả bằng ba chiều: tăng về lượng (volume), tăng về vận tốc (velocity) và tăng về chủng loại (variety). Giờ đây, Gartner cùng với nhiều công ty và tổ chức khác trong lĩnh vực công nghệ thông tin tiếp tục sử dụng mô hình “3V” này để định nghĩa nên Big Data. Đến năm 2012, Gartner bổ sung thêm rằng Big Data ngoài ba tính chất trên thì còn phải “cần đến các dạng xử lí mới để giúp đỡ việc đưa ra quyết định, khám phá sâu vào sự vật/sự việc và tối ưu hóa các quy trình làm việc”.

Chúng ta có thể lấy các thí nghiệm của Máy gia tốc hạt lớn (LHC) ở Châu Âu làm ví dụ cho Big Data. Khi các thí nghiệm này được tiến hành, kết quả sẽ được ghi nhận bởi 150 triệu cảm biến với nhiệm vụ truyền tải dữ liệu khoảng 40 triệu lần mỗi giây. Kết quả là nếu như LHC ghi nhận hết kết quả từ mọi cảm biến thì luồng dữ liệu sẽ trở nên vô cùng lớn, có thể đạt đến 150 triệu petabyte mỗi năm, hoặc 500 exabyte mỗi ngày, cao hơn 200 lần so với tất cả các nguồn dữ liệu khác trên thế giới gộp loại.

CMS_Higgs-event.
Đây là kết quả mô phỏng của một vụ va chạm giữa các hạt sơ cấp trong máy gia tốc LHC, có rất rất nhiều thông tin cần phải ghi nhận trong mỗi vụ chạm như thế này

Trong mỗi giây như thế lại có đến khoảng 600 triệu vụ va chạm giữa các hạt vật chất diễn ra, nhưng sau khi chọn lọc lại từ khoảng 99,999% các luồng dữ liệu đó, chỉ có tầm 100 vụ va chạm là được các nhà khoa học quan tâm. Điều này có nghĩa là cơ quan chủ quản LHC phải tìm những biện pháp mới để quản lý và xử lí hết mớ dữ liệu khổng lồ này.

Một ví dụ khác, khi Sloan Digital Sky Sruver, một trạm quan sát vũ trụ đặt tại New Mexico, bắt đầu đi vào hoạt động hồi năm 2000, sau một vài tuần nó đã thu thập dữ liệu lớn hơn tổng lượng dữ liệu mà ngành thiên văn học đã từng thu thập trong quá khứ, khoảng 200GB mỗi đêm và hiện tổng dung lượng đã đạt đến hơn 140 terabyte. Đài quan sát LSST để thay thế cho SDSS dự kiến khánh thành trong năm 2016 thì sẽ thu thập lượng dữ liệu tương đương như trên nhưng chỉ trong vòng 5 ngày.

Hoặc như công tác giải mã di truyền của con người chẳng hạn. Trước đây công việc này mất đến 10 năm để xử lí, còn bây giờ người ta chỉ cần một tuần là đã hoàn thành. Còn Trung tâm giả lập khí hậu của NASA thì đang chứa 32 petabyte dữ liệu về quan trắc thời tiết và giả lập trong siêu máy tính của họ. Việc lưu trữ hình ảnh, văn bản và các nội dung đa phương tiện khác trên Wikipedia cũng như ghi nhận hành vi chỉnh sửa của người dùng cũng cấu thành một tập hợp Big Data lớn.

Viegas-UserActivityonWikipedia.
Hoạt động của người dùng Wikipedia được mô hình hóa và với kích thước hàng terabyte, đây cũng có thể được xem là một dạng Big Data

2. Vài thông tin về tình hình Big Data hiện nay

Theo tài liệu của Intel vào tháng 9/2013, hiện nay thế giới đang tạo ra 1 petabyte dữ liệu trong mỗi 11 giây và nó tương đương với một đoạn video HD dài 13 năm. Bản thân các công ty, doanh nghiệp cũng đang sở hữu Big Data của riêng mình, chẳng hạn như trang bán hàng trực tuyến eBay thì sử dụng hai trung tâm dữ liệu với dung lượng lên đến 40 petabyte để chứa những truy vấn, tìm kiếm, đề xuất cho khách hàng cũng như thông tin về hàng hóa của mình.

Nhà bán lẻ online Amazon.com thì phải xử lí hàng triệu hoạt động mỗi ngày cũng như những yêu cầu từ khoảng nửa triệu đối tác bán hàng. Amazon sử dụng một hệ thống Linux và hồi năm 2005, họ từng sở hữu ba cơ sở dữ liệu Linux lớn nhất thế giới với dung lượng là 7,8TB, 18,5TB và 24,7TB.

Tương tự, Facebook cũng phải quản lí 50 tỉ bức ảnh từ người dùng tải lên, YouTube hay Google thì phải lưu lại hết các lượt truy vấn và video của người dùng cùng nhiều loại thông tin khác có liên quan.

Còn theo tập đoàn SAS, chúng ta có một vài số liệu thú vị về Big Data như sau:

  • Các hệ thống RFID (một dạng kết nối tầm gần, như kiểu NFC nhưng có tầm hoạt động xa hơn và cũng là thứ dùng trong thẻ mở cửa khách sạn) tạo ra lượng dữ liệu lớn hơn 1.000 lần so với mã vạc truyền thống
  • Chỉ trong vòng 4 giờ của ngày “Black Friday” năm 2012, cửa hàng Walmart đã phải xử lí hơn 10 triệu giao dịch tiền mặt, tức là khoản 5.000 giao diện mỗi giây.
  • Dịch vụ chuyển phát UPS nhận khoảng 39,5 triệu yêu cầu từ khách hàng của mình mỗi ngày
  • Dịch vụ thẻ VISA xử lí hơn 172.800.000 giao dịch thẻ chỉ trong vòng một ngày mà thôi
  • Trên Twitter có 500 triệu dòng tweet mới mỗi ngày, Facebook thì có 1,15 tỉ thành viên tạo ra một mớ khổng lồ dữ liệu văn bản, tập tin, video…

3. Công nghệ dùng trong Big Data

Big Data là nhu cầu đang tăng trưởng lớn đến nỗi Software AG, Oracle, IBM, Microsoft, SAP, EMC, HP và Dell đã chi hơn 15 tỉ USD cho các công ty chuyên về quản lí và phân tích dữ liệu. Năm 2010, ngành công nghiệp Big Data có giá trị hơn 100 tỉ USD và đang tăng nhanh với tốc độ 10% mỗi năm, nhanh gấp đôi so với tổng ngành phần mềm nói chung.

Big-Data-Trends.0031.
Một số công ty có tham gia vào lĩnh vực Big Data

Như đã nói ở trên, Big Data cần đến các kĩ thuật khai thác thông tin rất đặc biệt do tính chất khổng lồ và phức tạp của nó. Năm 2011, tập đoàn phân tích McKinsey đề xuất những công nghệ có thể dùng với Big Data bao gồm crowsourcing (tận dụng nguồn lực từ nhiều thiết bị điện toán trên toàn cầu để cùng nhau xử lí dữ liệu), các thuật toán về gen và di truyền, những biện pháp machine learning (ý chỉ các hệ thống có khả năng học hỏi từ dữ liệu, một nhánh của trí tuệ nhân tạo), xử lí ngôn ngữ tự nhiên (giống như Siri hay Google Voice Search, nhưng cao cấp hơn), xử lí tín hiệu, mô phỏng, phân tích chuỗi thời gian, mô hình hóa, kết hợp các server mạnh lại với nhau…. Những kĩ thuật này rất phức tạp nên chúng ta không đi sâu nói về chúng.

lossy-page1-608px-DARPA’s_Topological_Data_Analysis_program.tiff.
Một trong những mô hình về cấu trúc cơ bản của một tập hợp dữ liệu rất lớn do bộ phận nghiên cứu của Bộ quốc phòng Mỹ đưa ra

Ngoài ra, các cơ sở dữ liệu hỗ trợ xử lí dữ liệu song song, ứng dụng hoạt động dựa trên hoạt động tìm kiếm, file system dạng rời rạc, các hệ thống điện toán đám mây (bao gồm ứng dụng, nguồn lực tính toán cũng như không gian lưu trữ) và bản thân Internet cũng là những công cụ đắc lực phục vụ cho công tác nghiên cứu và trích xuất thông tin từ “dữ liệu lớn”. Hiện nay cũng có vài cơ sở dữ liệu theo dạng quan hệ (bảng) có khả năng chứa hàng petabyte dữ liệu, chúng cũng có thể tải, quản lí, sao lưu và tối ưu hóa cách sử dụng Big Data nữa.

Những người làm việc với Big Data thường cảm tháy khó chịu với các hệ thống lưu trữ dữ liệu vì tốc độ chậm, do đó họ thích những loại ổ lưu trữ nào có thể gắn trực tiếp vào máy tính (cũng như ổ cứng gắn trong máy tính của chúng ta vậy). Ổ đó có thể là SSD cho đến các đĩa SATA nằm trong một lưới lưu trữ cỡ lớn. Những người này nhìn vào ổ NAS hay hệ thống lưu trữ mạng SAN với góc nhìn rằng những thứ này quá phức tạp, đắt và chậm. Những tính chất nói trên không phù hợp cho hệ thống dùng để phân tích Big Data vốn nhắm đến hiệu năng cao, tận dụng hạ tầng thông dụng và chi phí thấp. Ngoài ra, việc phân tích Big Data cũng cần phải được áp dụng theo thời gian thực hoặc cận thời gian thực, thế nên độ trễ cần phải được loại bỏ bất kì khi nào và bất kì nơi nào có thể.

4. Big Data có thể giúp gì được cho chúng ta?

Tập đoàn SAS nói vấn đề thật sự không nằm ở việc bạn thu thập dữ liệu, thay vào đó, là bạn dùng Big Data để làm gì. Nhìn chung, có bốn lợi ích mà Big Data có thể mang lại: cắt giảm chi phí, giảm thời gian, tăng thời gian phát triển và tối ưu hóa sản phẩm, đồng thời hỗ trợ con người đưa ra những quyết định đúng và hợp lý hơn.

Nếu để ý một chút, bạn sẽ thấy khi mua sắm online trên eBay, Amazon hoặc những trang tương tự, trang này cũng sẽ đưa ra những sản phẩm gợi ý tiếp theo cho bạn, ví dụ khi xem điện thoại, nó sẽ gợi ý cho bạn mua thêm ốp lưng, pin dự phòng; hoặc khi mua áo thun thì sẽ có thêm gợi ý quần jean, dây nịt… Do đó, nghiên cứu được sở thích, thói quen của khách hàng cũng gián tiếp giúp doanh nghiệp bán được nhiều hàng hóa hơn.

Vậy những thông tin về thói quen, sở thích này có được từ đâu? Chính là từ lượng dữ liệu khổng lồ mà các doanh nghiệp thu thập trong lúc khách hàng ghé thăm và tương tác với trang web của mình. Chỉ cần doanh nghiệp biết khai thác một cách có hiệu quả Big Data thì nó không chỉ giúp tăng lợi nhuận cho chính họ mà còn tăng trải nghiệm mua sắm của người dùng, chúng ta có thể tiết kiệm thời gian hơn nhờ những lời gợi ý so với việc phải tự mình tìm kiếm.

Người dùng cuối như mình và các bạn sẽ được hưởng lợi cũng từ việc tối ưu hóa như thế, chứ bản thân chúng ta thì khó mà tự mình phát triển hay mua các giải pháp để khai thác Big Data bởi giá thành của chúng quá đắt, có thể đến cả trăm nghìn đô. Ngoài ra, lượng dữ liệu mà chúng ta có được cũng khó có thể xem là “Big” nếu chỉ có vài Terabyte sinh ra trong một thời gian dài.

Xa hơi một chút, ứng dụng được Big Data có thể giúp các tổ chức, chính phủ dự đoán được tỉ lệ thất nghiệp, xu hướng nghề nghiệp của tương lai để đầu tư cho những hạng mục đó, hoặc cắt giảm chi tiêu, kích thích tăng trưởng kinh tế, v/v… thậm chí là ra phương án phòng ngừa trước một dịch bệnh nào đó, giống như trong phim World War Z, nước Israel đã biết trước có dịch zombie nên đã nhanh chóng xây tường thành ngăn cách với thế giới bên ngoài.

Mà cũng không cần nói đến tương lai phim ảnh gì cả, vào năm 2009, Google đã sử dụng dữ liệu Big Data của mình để phân tích và dự đoán xu hướng ảnh hưởng, lan truyền của dịch cúm H1N1 đấy thôi. Dịch vụ này có tên là Google Flu Trends. Xu hướng mà Google rút ra từ những từ khóa tìm kiếm liên quan đến dịch H1N1 đã được chứng minh là rất sát với kết quả do hai hệ thống cảnh báo cúm độc lập Sentinel GP và HealthStat đưa ra. Dữ liệu của Flu Trends được cập nhật gần như theo thời gian thực và sau đó sẽ được đối chiếu với số liệu từ những trung tâm dịch bệnh ở nhiều nơi trên thế giới.

Google_Flu_Trends.
Đường màu xanh là dự đoán của Google Flu Trends dựa trên số từ khóa tìm kiếm liên quan đến các dịch cúm, màu vàng là dữ liệu do cơ quan phòng chống dịch của Mỹ đưa ra.

Còn theo Oracle, việc phân tích Big Data và những dữ liệu dung lượng lớn đã giúp các tổ chức kiếm được 10,66$ cho mỗi 1$ chi phí phân tích, tức là gấp 10 lần! Một trường học ở một quận lớn tại Mỹ cũng có được sự tăng trưởng doanh thulà 8 triệu USD mỗi năm, còn một công ty tài chính ẩn danh khác thì tăng 1000% lợi nhuận trên tổng số tiền đầu tư của mình trong vòng 3 năm.

5. Chỉ trích đối với Big Data

Có hai hướng chỉ trích chính đối với Big Data, một là về cách mà người ta sử dụng Big Data, cái còn lại thì liên quan đến việc tiến hành lấy thông tin từ Big Data mà thế giới đang làm.

A. Chỉ trích về Big Data

Chris Anderson, một nhà khởi nghiệp và cũng là một người viết sách, cho rằng việc sử dụng Big Data luôn cần phải được ngữ cảnh hóa trong các bối cảnh về xã hội, kinh tế và chính trị. Ví dụ, ngay cả khi các công ty đã đầu tư hàng tỉ USD vào Big Data và lấy được thông tin về nhiều thứ nhưng chỉ có ít hơn 40% nhân viên thật sự có thể hiểu và tận dụng các thông tin này. Điều đó làm giảm hiệu quả của Big Data đi nhiều so với lúc đầu, dẫn đến lãng phí tài nguyên.

Ngoài ra, còn có chỉ trích rằng Big Data chỉ có thể miêu tả thế giới trong quá khứ bởi nó dựa trên các dữ liệu đã sinh ra từ trước, và nếu tốt lắm thì chỉ miêu tả được trong hiện thực. Việc sử dụng Big Data để nói về tương lai thì cần phải kết hợp thêm với các phương pháp mô hình, mô phỏng hay nghiên cứu về sự chuyển động của thế giới thì mới đưa ra dự đoán chính xác được.

Bên cạnh đó, người ta còn lo lắng về vấn đề quyền riêng tư của người dùng. Việc thu thập Big Data có thể sẽ đi kèm thông tin có khả năng định dạng người dùng mà không được sự đồng ý của họ, và điều đó vi phạm luật ở một số quốc gia. Nhiều chuyên gia từ nhiều lĩnh vực khác nhau hiện đang thúc đẩy việc bảo vệ quyền riêng tư khi sử dụng Big Data.

B. Chỉ trích về việc lấy thông tin từ Big Data

Nhà nghiên cứu Danah Boyd đã đưa ra quan ngại của mình rằng việc sử dụng Big Data trong việc chọn mẫu thống kê có thể gây ra sự chủ quan, và dù ít hay nhiều thì nó cũng có thể ảnh hưởn đến kết quả cuối cùng. Việc khai thác dữ liệu từ một số nguồn là Big Data, trong khi những nguồn khác không phải là “dữ liệu lớn” thì đặt ra những thách thức khi phân tích dữ liệu.

6. Tương lai của Big Data

Erik Swan, đồng sáng lập kiêm giám đốc công nghệ của công ty Spunk, dự đoán rằng sự thay đổi nhất trong Big Data chính là thái độ của mọi người đối với nó. Việc tiêu thụ một lượng dữ liệu lớn sẽ dần phổ biến hơn với mọi người, từ những người nông dân cho đến các anh kĩ sư. Mọi người sẽ mặc định sử dụng dữ liệu để phân tích mọi thứ trong vòng 10 năm tới. Tất nhiên là kĩ thuật và công nghệ cũng cần phải phát triển theo thì điều này mới có thể trở thành hiện thực.

Còn theo Ankur Jain, nhà sáng lập và CEO của Humin, ngữ cảnh phát sinh ra dữ liệu sẽ trở nên quan trọng hơn. “Chúng ta sẽ bắt đầu định tuyến dữ liệu vào các đối tượng, sự vật, sự việc trong đời thực và chuyện đó giúp chúng ta xử lí công việc tốt hơn”.

Big_Data_problem.

Trong khi đó, Daniel Kaufman, giám đốc đổi mới về thông tin của cơ quan nghiên cứu thuộc Bộ quốc phòng Mỹ thì cho rằng dữ liệu sinh học sẽ ngày càng được quan tâm hơn, và rồi người ta sẽ dùng dữ liệu này để đưa ra những lời khuyên có ảnh hưởng lớn đến lối sống và cuộc đời của con người. Ví dụ, bạn có nên thêm một dĩa cơm tấm sườn nữa không, hay là nên ăn thêm một dĩa cơm gà? Bộ quốc phòng Mỹ muốn sử dụng kiểu suy nghĩ như thế (thay cơm bằng pizza nhé) để áp dụng cho binh lính của mình và hiện họ đang thử nghiệm trên chuột.

Giám đốc Swan còn suy nghĩ thêm rằng các công ty chuyên cung cấp giải pháp Big Data sẽ không còn bán dữ liệu và phân tích cho từng doanh nghiệp hay công ty riêng lẻ để phục vụ cho những mục đích quá chuyên biệt. Thay vào đó, họ sẽ mở rộng nó và áp dụng Big Data nhằm giải quyết những vấn đề trong đời thường và trả lời cho các nhu cầu cơ bản của con người. Đó sẽ là sự thay đổi về tính ứng dụng của Big Data.

Trong tương lai, chúng ta sẽ còn tiếp tục chứng kiến sự tăng trưởng của Big Data. Hiện nay có thể bạn cũng đã nghe đến khái niệm Internet of Things, tức là mang Internet đến với mọi thứ trong đời sống hằng ngày. Dữ liệu từ Internet of Things thực chất cũng là được thu thập từ một mạng lưới rất nhiều các cảm biến và thiết bị điện tử, và nó cũng là một trong những nguồn của Big Data. Lượng dữ liệu khổng lồ này có thể cho các nhà nghiên cứu biết được hành vi tiêu dùng của khách hàng, từ đó tinh chỉnh những thiết bị Internet of Things cho phù hợp hơn, bắt chúng phục vụ đời sống hằng ngày của chúng ta một cách hiệu quả hơn. Nó cũng có thể được dùng cho việc sản xuất, từ đó giảm sự liên quan của con người. Như lời của Daniel Kaufman dự đoán thì “con người sẽ làm ít hơn” nhờ Big Data.

7. Kết

Tóm lại, Big Data là thách thức đặt ra cho các tổ chức, doanh nghiệp trong thời đại số hiện nay. Một khi làm chủ được dữ liệu lớn thì họ sẽ có cơ hội thành công lớn hơn trong bối cảnh cạnh tranh ngày nay, thế giới thì sẽ được hưởng lợi hơn từ việc trích xuất thông tin một cách chính xác hơn, hữu ích hơn với chi phí thấp hơn. Vẫn còn đó những chỉ trích xoay quanh Big Data, tuy nhiên lĩnh vực này vẫn còn rất mới và chúng ta hãy chờ xem trong tương lai Big Data sẽ tiến hóa như thế nào.

[Discovery] Khám phá những điều thú vị về loài kiến

1. Kiến làm lành vết thương

 

1-2726-1384166211.jpg

 

Một số bộ lạc trên thế giới, điển hình như người Masai ở phía đông châu Phi, kiến có thể được sử dụng làm công cụ chữa lành vết thương. Khi các chiến binh Masai bị thương, họ chỉ cần tìm nhặt một vài con kiến thuộc đàn kiến quân đội có kích thước lớn và để chúng cắn ở hai bên vết thương, sau đó bỏ phần thân kiến mà chỉ giữ lại phần đầu kiến trên vết thương.

2. Kiến xuất hiện từ hơn 100 triệu năm trước

 

2-7348-1384166211.jpg

 

Loài kiến tồn tại từ kỷ Creta, cách đây khoảng 110-130 triệu năm trước. Qua hàng triệu năm tiến hóa, loài kiến đã hình thành nên một tổ chức cao.

3. Dịch vụ an táng trong tổ kiến

 

3-4097-1384166211.jpg

 

Khi một con trong đàn chết, các con kiến khác trong đàn sẽ mang xác con kiến ra khỏi tổ nhằm giữ vệ sinh, tránh nhiễm trùng hoặc dịch bệnh lây lan trong tổ. Mặc dù bất kỳ con kiến thợ nào cũng có thể làm việc này, nhưng trong đàn kiến luôn có một con kiến chuyên phụ trách công việc này.

4.  Khả năng tự nhân bản vô tính

 

4-6809-1384166211.jpg

 

Loài kiến ở vùng Amazon có khả năng sinh sản vô tính, tạo ra các bản sao giống hệt với những con kiến mẹ. Theo các nhà nghiên cứu, đặc điểm sinh sản vô tính của loài kiến xuất phát từ một loài nấm, nguồn thức ăn truyền thống của kiến từ hơn 80 triệu năm nay.

5. Nền giáo dục trong thế giới kiến

 

5-5938-1384166211.jpg

 

Kiến là loài côn trùng có hệ thống tổ chức rất tiến bộ. Một đàn kiến bao gồm nhiều kiến thợ phụ trách các công việc khác nhau như tìm kiếm thức ăn, canh gác, chăm sóc trứng và các con kiến nhỏ. Tuy nhiên, không phải ngay từ khi sinh ra kiến thợ đã có đầy đủ kỹ năng cần thiết được lập trình sẵn trong ADN để thực hiện các nhiệm vụ này, mà chúng cần phải trải qua quá trình học hỏi để làm công việc nhất định.

Những con kiến “thầy giáo” trong tổ sẽ dạy cho các con kiến trẻ hơn làm công việc cần thiết, nếu “học sinh” học chậm và “thi trượt” trong kỳ kiểm tra, chúng sẽ được chuyển đến một công việc khác không đòi hỏi kỹ năng chuyên môn.

6. Nền nông nghiệp của loài kiến

 

6_1384164496.jpg

 

Kiến Attine làm nông nghiệp bằng cách trồng nấm. Các con kiến thậm chí còn sử dụng các loại “thuốc trừ sâu” đặc biệt của chúng để chống ký sinh trùng làm ảnh hưởng đến vụ mùa.

Các nhà khoa học đã khám phá ra 5 hệ thống nông nghiệp khác nhau được kiến sử dụng. Tất cả loài kiến làm nông nghiệp đều có chung một số thói quen trong vườn nấm, chứng tỏ rằng chúng có thể đã chia sẻ cho nhau các bí quyết khi làm nông nghiệp.

7. Kiến sử dụng chất diệt cỏ và chất khử trùng tự nhiên

 

7_1384165284.jpg

 

Loại vi khuẩn có trên lớp biểu bì của con kiến có khả năng làm hạn chế sự lây lan của ký sinh trùng hoặc cỏ dại. Đây được coi là chất diệt cỏ và khử trùng tự nhiên mà kiến sử dụng trong những vườn nấm. Ngoài ra, các con kiến gỗ thường thêm nhựa thông đặc khi xây dựng tổ, làm cản trở sự phát triển của vi khuẩn và nấm.

Loài kiến chanh thường làm tổ trên cây, sản sinh ra một loại thuốc diệt cỏ tự nhiên có thể giết tất cả thực vật xung quanh tổ.

8. Kiến biết nuôi các con côn trùng khác

 

8_1384165776.jpg

 

Kiến biết nuôi các côn trùng như rệp và sâu bướm để lấy chất ngọt tiết ra từ những con côn trùng này. Giống như những người chăn bò, các con kiến bảo vệ côn trùng nuôi khỏi sự hăm dọa của kẻ săn mồi và di cư chúng theo từng đàn.

Khi đến thời điểm thu hoạch chất ngọt từ bầy côn trùng, kiến “vắt sữa” bằng cách dùng râu của chúng. Đàn kiến thường mang theo bầy côn trùng khi di chuyển tới một khu vực mới, cũng giống như con người đưa gia súc đi theo khi tìm kiếm những đồng cỏ xanh hơn.

9. Kỹ năng chiến đấu có chiến thuật

 

9_1384166499.jpg

 

Tương tự như con người, thế giới loài kiến cũng tồn tại các cuộc chiến tranh khốc liệt. Khi xảy ra chiến tranh, kiến biết chiến đấu theo các chiến thuật khác nhau dựa trên tình trạng đe dọa cụ thể. Loài kiến thậm chí có thể gây rối loạn tín hiệu hóa học, khiến cho đối phương nhầm lẫn và tự tấn công nhau.

10. Chế độ nô lệ trong thế giới kiến

 

10_1384166617.jpg

 

Trong thế giới kiến, không phải tất cả các con kiến đều làm việc chăm chỉ mà rất nhiều trong số đó sống dựa vào sức lao động của những con kiến nô lệ. Để thu nạp nô lệ, các con kiến tiến hành các cuộc chiến tranh để cướp đoạt những bầy nhộng và nô lệ hóa chúng khi mới nở.

Polyergus breviceps là loài kiến không có khả năng chăm sóc bản thân và các con kiến con, thậm chí không thể tự làm sạch tổ. Khi tấn công một tổ kiến khác, loài kiến này tiết ra axit fomic gây ra hoảng loạn và làm sụp đổ hệ thống phòng vệ của đối phương và dễ dàng cướp nhộng kiến.

[Technology] Lịch sử 12 năm vẻ vang của máy chơi game Xbox

Nói về lịch sử sản xuất máy chơi game, Nintendo mới chính là cái tên “gạo cội” nhất. Hãng công nghệ Nhật Bản tham gia thị trường từ năm 1980. Cái tên tiếp theo là Sony với chiếc PlayStation ra mắt năm 1994. Microsoft tham gia thị trường console khá muộn. Chiếc Xbox lần đầu tiên được hãng công bố vào cuối năm 2001, và chiếc Xbox mới nhất – Xbox One – vừa được Microsoft bán ra cách đây ít lâu. Dưới đây là những điểm nhấn trong lịch sử chiếc máy chơi game này.

Chiếc Xbox đầu tiên

 

Lịch sử 12 năm vẻ vang của máy chơi game Xbox

 

Chiếc Xbox đầu tiên lên kệ vào ngày 15/11/2001 với giá bán 299 USD, cạnh tranh trực tiếp với Play Station 2 của Sony và GameCube của Nintendo. Microsoft cũng đưa tựa game đình đám Halo, cùng hàng loạt game lớn khác, lên console này. Điểm mạnh của chiếc Xbox đầu tiên là cấu hình tốt, hỗ trợ màn hình độ phân giải cao, cổng Ethernet, bộ nhớ lớn. Điểm yếu của máy là kích thước cồng kềnh, yêu cầu phần cứng ngoài để mở khóa tính năng xem DVD.

Xbox 360 Pro

Lịch sử 12 năm vẻ vang của máy chơi game Xbox

4 năm sau đó, ngày 22/11/2005, Microsoft giới thiệu Xbox thế hệ thứ 2, hay còn gọi là Xbox 360. Máy có phần mặt có thể tháo rời, ổ cứng 20 GB, không hỗ trợ WiFi (người dùng phải mua bộ hỗ trợ riêng với giá 99 USD). Mặc dù máy không có cổng xuất HDMI (chỉ được bổ sung ở các phiên bản sau đó), nhưng đây được xem là console đầu tiên được thiết kế để hỗ trợ đồ họa chuẩn HD. 360 lên kệ sớm hơn các đối thủ Play Station 3 và Nintendo Wii 1 năm (các console này ra mắt tháng 11/2006), và phần cứng bị tố gặp lỗi nặng, trong đó đáng hổ thẹn nhất là lỗi “đèn đỏ” (một ánh sáng màu đỏ liên tục nhấp nháy trên máy).

Xbox 360 phiên bản ổ cứng 20 GB được bán với giá 399 USD. Ngoài ra Microsoft cũng bán một phiên bản khác với giá 299 USD nhưng máy không đi kèm ổ cứng.

Xbox 360 Elite

Full Set

Xbox 360 Elite có thể xem là phiên bản cải tiến của Xbox 360 đời đầu. Máy có thiết kế toàn màu đen và ra mắt tháng 4 năm 2007. Xbox 360 Elite được bổ sung cổng xuất HDMI, ổ cứng dung lượng cao 120 GB, và được bán với giá 480 USD.

Điểm mạnh của chiếc máy này chính là bộ sưu tập game đồ sộ, bao gồm nhiều tựa game độc quyền của Xbox 360, tất cả các game đều có độ phân giải cao, giao diện Dashboard thân thiện, hỗ trợ tay cầm không dây và các phụ kiện khác, dịch vụ Xbox Live hỗ trợ multiplayer trực tuyến (có chat voice và matchmaking – ghép 2 người chơi với nhau). Xbox 360 Elite tương thích ngược với rất nhiều game trên Xbox đời đầu, Marketplace trực tuyến cho phép mua các minigame dễ dàng, hỗ trợ phim HD và TV Show.

Tuy nhiên, máy cũng có nhiều điểm yếu như không thể khắc phục các lỗi khó chịu mà người tiền nhiệm của nó – Xbox 360 – để lại: ổ DVD và hệ thống tản nhiệt phát ra nhiều tiếng ồn, bộ nguồn có kích cỡ quá to, không hỗ trợ kết nối mạng không dây, chỉ có 3 cổng USB, ổ DVD chất lượng tầm thường, chơi online cần phải mất thêm phí đăng kí dịch vụ Xbox Live, hạn chế phụ kiện của bên thứ 3.

Xbox 360S

Lịch sử 12 năm vẻ vang của máy chơi game Xbox

Tại Hội chợ E3 năm 2010, Microsoft giới thiệu Xbox 360S, một phiên bản cải tiến nữa của 360 với thiết kế được “giảm béo”, gọn gàng hơn. Microsoft cũng bổ sung kết nối WiFi và ổ cứng dung lượng lớn, 250 GB ở phiên bản này. Máy có giá bán 299 USD. Đồng thời đến phiên bản này thì lỗi đèn đỏ ở Xbox 360 đời đầu cũng được khắc phục. Đồng thời, cùng với việc bổ sung Netflix (dịch vụ cho thuê phim) và hàng loạt dịch vụ stream khác, Xbox 360 ngày càng trở thành một thiết bị media quan trọng.

Những điểm mạnh của máy là thiết kế bóng bẩy (nhỏ hơn phiên bản cũ 17%), hoạt động êm hơn, tản nhiệt tốt hơn, khay đĩa và nguồn cũng ổn định hơn, ổ cứng dung lượng cao (250 GB), WiFi tích hợp, 5 cổng USB, cổng Kinect riêng.

Nhược điểm của Xbox 360S là vẫn dùng ổ cứng độc quyền, nguồn máy vẫn cồng kềnh, controller trên D-pad không có gì cải tiến, không có cáp đi kèm để hỗ trợ chơi game HD.

Xbox 360 Kinect

Lịch sử 12 năm vẻ vang của máy chơi game Xbox

Cũng trong năm 2010, Microsoft giới thiệu cảm biến Kinect. Đây được xem là câu trả lời cho Wii của Nintendo với tay cầm Wii Remote có thể nhận diện cử chỉ. Ngoài việc bổ sung nhận diện cử chỉ cho Xbox 360, Kinect cũng được tích hợp cả camera. Mặc dù cảm biến này bán tốt, nhưng không có nhiều game tận dụng các tính năng của nó. Kinect, vì thế, chỉ như một phụ kiện tạo nên sự nổi bật cho Xbox mà thôi.

Những điểm mạnh của Xbox 360 Kinect là hỗ trợ điều khiển bằng chuyển động, thư viện game phong phú, điều khiển giọng nói. Điểm yếu là nó đòi hỏi người chơi mất công tìm hiểu, điều hướng menu và video thường không ổn định, cần phòng có diện tích lớn để hoạt động, nhiều game yêu cầu người chơi phải đứng, cần nguồn riêng khi sử dụng với các máy Xbox 360 đời cũ.

Xbox 360E

 

Lịch sử 12 năm vẻ vang của máy chơi game Xbox

 

Được giới thiệu tại E3 2013, Microsoft đã thiết kế giúp Xbox 360E nhỏ gọn hơn một chút so với thế hệ trước nó. Máy có giá bán 250 USD và thường được tặng kèm 1 đến 2 game khi mua. Có thể nói đó là một mức giá hấp dẫn dành cho game thủ. Điểm mạnh của máy vẫn là thư viện game phong phú, máy chạy mát hơn các thế hệ trước. Điểm yếu đó là cổng A/V cũ và S/PDIF đã bị loại bỏ, không có ổ Blu-ray, yêu cầu phải có tài khoản Xbox Live Gold mới hỗ trợ chơi online và nhiều ứng dụng giải trí.

Xbox One

 

Lịch sử 12 năm vẻ vang của máy chơi game Xbox

 

Xbox One – thế hệ Xbox mới nhất của Microsoft, vừa lên kệ ngày 22/11 vừa qua, chỉ sau PS4 một tuần lễ. Máy có giá 499 USD đã bao gồm cả cảm biến Kinect thế hệ mới (người dùng bắt buộc phải mua cả combo này, không thể mua riêng). Với Xbox One, Microsoft không chỉ tập trung vào tải nghiệm game, mà còn tích hợp trong đó nhiều tiện ích giải trí. One được tích hợp dịch vụ TV trực tuyến, có tính năng nhận diện giọng nói, điều khiển chuyển động rất hứa hẹn. Những điểm mạnh khác gồm đồ họa game được cải tiến, game độc quyền nhiều hơn (1 chút) so với PS4.

Tất nhiên, One vẫn còn những điểm yếu như dịch vụ TV trực tuyến hoạt động chưa mượt mà, khả năng nhận diện giọng nói của Kinect chưa ổn định, giao diện dashboard mới phức tạp hơn trước. Máy có giá đắt hơn đối thủ PS4 100 USD, và yêu cầu phải đăng kí dịch vụ Xbox Live Gold (có trả phí) mới có thể sử dụng nhiều tính năng hấp dẫn.

[Discovery] Lựu đạn hoạt động như thế nào?

1. Tại sao gọi là “Lựu đạn”?

Lựu đạn là một hình thức của thuốc nổ được người Trung Quốc phát minh vào khoảng năm 1.000 sau Công Nguyên. Đến thế kỷ thứ 15, 16 thì người châu Âu cũng phát triển được các phiên bản tương tự như “lựu đạn” của người Trung Quốc.

Những loại lựu đạn này có chung một thiết kế đó là vỏ bằng kim loại, phần ruột rỗng và bên trong chứa thuốc súng. Để kích nổ nó, người ta chỉ cần châm ngòi sau đó ném lựu đạn đi, dây ngòi sau khi cháy hết, ngọn lửa sẽ bén vào trong thuốc súng và làm cho nó phát nổ. Do đó mà ngày xưa, người ta phải ném nó thật nhanh trước khi nó phát nổ, nếu không thì chính họ sẽ phải nổ tung cùng với thứ vũ khí chết người này. Vì vậy mà sang thế kỷ thứ 18, người ta không còn chuộng loại vũ khí này nữa do nó quá nguy hiểm. Tuy nhiên, từ đó về sau con người đã thực hiện rất nhiều cuộc “tiểu phẫu” khác nhau nhằm cải tiến lựu đạn cho nó an toàn hơn, thông minh hơn và cũng hoạt động hiệu quả hơn.

Từ “Lựu đạn” xuất phát từ từ “Pomegranate” trong tiếng Pháp, nghĩa là trái lựu. Hồi thế kỷ thứ 16, lính Pháp và một số lính châu Âu khác sử dụng những trái  bom  nhỏ, tròn tròn như quả lựu, bên trong nhét đầy thuốc súng giống như các hạt lựu trong quả lựu nên người ta mới gọi nó là “Lựu đạn”.

 

[IMG]

Một quả lựu đạn cầm tay

 

2. Cấu tạo của Lựu đạn

Lựu đạn gồm có hai phần chính: vật liệu dễ cháy (thuốc súng, chất nổ) và hệ thống đánh lửa (kíp nổ). Vật liệu dễ cháy có chức năng tạo ra vụ nổ còn hệ thống đánh lửa có chức năng kích cho vật liệu đó nổ. Ngoài thuốc súng ra, người ta có thể thay vào đó những loại vật liệu khác ví dụ như vật liệu tạo lửa (lựu đạn cháy, gây hiệu ứng cháy lan), tạo khói (lựu đạn khói, hơi cay) hoặc lựu đạn gây lóa mắt (Flashbang), khí độc…

Tương tự như vậy, kíp nổ cũng rất đa dạng, nhưng tựu chung lại thì ta có thể gom thành 2 loại chính đó là kíp nổ hẹn giờ và kíp nổ va đập/tiếp xúc. Cả hai đều có chung một mục đích là kích nổ lựu đạn nhưng cách hoạt động thì khác nhau.

Kíp nổ hẹn giờ, y như tên gọi của nó, là loại kíp nổ sau một khoảng thời gian nhất định, ví dụ như 4 giây, 7 giây… nó sẽ đánh lửa làm cho lựu đạn phát nổ. Còn loại kíp nổ va đập thì khi có va đập (rơi xuống đất) hay có người đạp lên nó thì lập tức lựu đạn sẽ phát nổ ngay, đúng kiểu “đạp phát chết luôn”. Loại lựu đạn này có thể không sử dụng thuốc súng mà dùng vật liệu dạng lỏng, ví dụ như chất NitroGlycerine hay một số chất khác có khả năng đốt cháy khi chịu sự va đập hoặc cọ xát. Do đó bản thân chất lỏng này cũng là một kíp nổ.

Một ví dụ rất dễ hiểu dành cho loại lựu đạn va đập này đó là loại “lựu đạn chai” (Molotov cocktail) mà ta thường thấy trên phim hay TV. Lựu đạn Molotov thường dùng một cái lọ hoặc chai nước rỗng, bên trong chứa xăng hoặc chất lỏng dễ cháy, miệng chai được bịt kín bằng một miếng vải và cho một phần miếng vải này lòi ra ngoài miệng chai. Khi ta đốt miếng vải lòi ra ngoài và quăng nó đi, lựu đạn rơi xuống đất làm cho chai bị vỡ, chất lỏng rơi ra, chạm vào ngọn lửa ở miệng chai và bốc cháy. Tuy nhiên, cả hai loại lựu đạn này đều không an toàn, chúng rất dễ nổ trước khi ta kịp “cao chạy xa bay” nên chúng không còn thông dụng, đặc biệt là khi dùng trong  quân sự .

 

[IMG]

“Lựu đạn” Molotov

 

3. Lựu đạn hẹn giờ (Time-delay grenade)

Loại lựu đạn thông dụng nhất trên chiến trường hiện nay có cái tên khá dài, tạm dịch là “Lựu đạn cầm tay hẹn giờ phá mảnh gây sát thương” (time-delay fragmentation anti-personnel hand grenade), có chức năng tiêu diệt hoặc gây sát thương cho quân thù. Loại lựu đạn này rất phổ biến trong thế chiến thứ nhất và thứ hai. Nó bền, dễ sử dụng và dễ sản xuất, được thiết kế để khi nổ sẽ phóng ra hàng loạt các mảnh kim loại theo tứ phía, gây sát thương cho những ai đứng gần. Đó là lý do tại sao lớp vỏ của lựu đạn thường có nhiều rãnh để dễ phá mảnh khi nổ. Thông thường, loại LĐ này sử dụng cơ chế hẹn giờ hóa học (chemical delay mechanism).

Lựu đạn hoạt động như thế nào?

Vỏ lựu đạn làm bằng hợp kim gang, bên trong có hệ thống đánh lửa và kíp nổ hẹn giờ để gây nổ lựu đạn. Nó hoạt động như sau: Bình thường chốt an toàn có nhiệm vụ giữ mỏ vịt, không cho mỏ vịt bật lên, đầu mỏ vịt luôn giữ đuôi kim hỏa, kim hỏa ép lò xo lại. Khi rút chốt an toàn ra, mỏ vịt không bị giữ nữa nên nó sẽ rời ra, đầu mỏ vịt rời khỏi đuôi kim hỏa, lò xo bung ra, đẩy kim hỏa đập vào mũ đánh lửa, lửa đốt cháy dây dẫn hóa học, khi cháy hết nó sẽ phụt lửa vào kíp nổ, gây nổ LĐ.

Mặc dù loại lựu đạn này khá hữu dụng nhưng nó cũng có một số nhược điểm nhất định. Trong đó nhược điểm thường thấy nhất đó chính là tính khó lường trước của nó. Tùy vào loại hóa chất dùng làm dây dẫn cháy chậm mà thời gian phát nổ có thể dao động từ 2-6 giây và điều này tạo cho kẻ địch có cơ hội phản công. Nếu người ném lựu đạn không tính toán đúng thời gian ném và phát nổ, kẻ địch có thể nhặt lựu đạn trước khi nó nổ và ném ngược lại, gây nguy hiểm cho bên mình. Do đó, người ta mới phát minh ra một loại lựu đạn khác là lựu đạn va đập, tức nó sẽ phát nổ ngay khi rơi xuống đất hay chạm mạnh vào một vật gì đó.

4. Lựu đạn va đập (Impact grenade)

Lựu đạn va đập hoạt động giống như những quả bom ném xuống từ máy bay, khi chạm đất thì chúng sẽ phát nổ ngay lập tức. Thông thường người ta không dùng tay để ném chúng mà dùng một loại vũ khí gọi là súng phóng lựu (Granade launcher) để phóng quả lựu đạn đi ở tốc độ cao.

Súng phóng lựu có hình ống, thường được gắn kèm bên dưới các khẩu súng trường như bạn thấy ở hình dưới đây. Chúng sẽ phóng lựu đạn đi bằng khí gas nén khi người cầm súng bóp cò, một số loại súng phóng lựu thậm chí còn có cả kíp nổ riêng và hệ thống phóng tích hợp sẵn bên trong. Một loại súng phóng lựu khác “bình dân” hơn mà ta hay thấy đó là súng phóng lựu xách vai (RPG, Rocket-Propelled Granade Launcher). Loại này ta thường thấy nhất trên chiến trường Afghanistan và chúng cũng có hệ thống phóng tích hợp riêng bên trong.

Lựu đạn hoạt động như thế nào?

Vì loại lựu đạn này dễ phát nổ khi va đập nên bình thường người ta phải khóa nó lại, nếu không thì sẽ rất nguy hiểm, nó sẽ được mở khóa khi bắn ra khỏi nòng súng. Cơ chế mở khóa của nó là tự động, nghĩa là ta không có cái công tắc nào để mở khóa chúng cả mà nó sẽ tự mở như sau: Khóa sẽ tự động được mở khi bị một lực đẩy đẩy ra khỏi nòng súng, hay nhờ vào vận tốc bay, sự xoay vòng của lựu đạn khi bay ra khỏi nòng súng cũng có thể mở khóa được chúng trước khi va chạm vào mục tiêu và phát nổ.

Lựu đạn va đập có hình dáng thiết kế theo kiểu khí động học, nhìn hình miêu tả bạn sẽ thấy nó có 3 phần: phần đầu (kíp nổ va đập), phần thân và hai cái vây (cánh). Cấu tạo bên trong của nó có nhiều điểm giống với loại lựu đạn hẹn giờ, nhưng do cách hoạt động khác nhau nên cơ chế kích nổ của nó cũng có phần khác nhau.

Cách hoạt động của nó như sau:

Bình thường khi còn nằm trong họng súng, lựu đạn sẽ ở trạng thái khóa. Kíp nổ của nó nằm ở phần đuôi (màu đỏ, xem hình minh họa), bên dưới kíp nổ là một lò xo nhưng lúc này đang bị nén lại và giữ chặt bời hai cái ghim trọng lực. Hai cái ghim này giữ không cho lò xo đẩy kíp nổ lên phía trước, mục đích là để cho búa gõ không gõ tới được.

Khi ta khai hỏa, lựu đạn bay ra khỏi nòng, vừa bay và vừa xoay vòng. Chính hình dáng và vị trí của hai cái vây hai bên và những cái rãnh bên trong họng súng giúp cho lựu đạn có thể xoay vòng trong không trung. Mục đích của việc xoay vòng này là nó sẽ tạo ra một lực ly tâm, để khi bay ra đủ xa, lực ly tâm sẽ làm cho hai cái ghim trọng lực bị bật ra. Lúc này lò xo bên dưới kíp nổ không còn bị giữ chặt nữa nên nó sẽ bung lên và đẩy kíp nổ về phía trước, hướng về phía búa gõ. Chính lúc này đây, lựu đạn đã chuyển sang trạng thái mở và sẽ phát nổ khi búa gõ đập vào kíp nổ.Trong khi lựu đạn còn bay trên không, chưa rơi xuống thì búa gõ sẽ chưa thể đập vào kíp nổ được, bởi vì nối giữa phần đầu và phần thân lựu đạn là hai cái lò xo làm cho chúng bị tách nhau ra. Khi lựu đạn rơi xuống đất hoặc chạm mạnh vào một vật thể nào đó làm cho phần đầu bị tác động một lực đủ mạnh, khiến cho nó bị thụt vào, hai cái lò xo bị nén lại và búa gõ sẽ đập vào kíp nổ, kết quả là lựu đạn phát nổ.

 

[IMG]

M-203 và đạn của nó

 

 

[IMG]

M-203 được gắn kèm bên dưới khẩu súng trường Carbin M4

 

[IMG]

[IMG]

 

Súng phóng lựu vác vai RPG-7

 

Trên đây là cách hoạt động cơ bản nhất của 2 loại lựu đạn hẹn giờ và va đập. Hiện nay người ta đã phát triển chúng lên một tầm cao mới. Vẫn sử dụng nguyên tắc hoạt động đó nhưng cơ chế kích nổ sẽ khác đi, thay vì dùng dây dẫn hóa học hẹn giờ hoặc cơ học để kích nổ lựu đạn thì người ta thay thế nó bằng một hệ thống kích nổ điện tử. Ví dụ như trong loại lựu đạn hẹn giờ, họ sẽ gắn vào đó một cái đồng hồ điện tử và búa gõ hoạt động bằng điện. Khi tháo chốt an toàn ra thì đồng hồ sẽ bắt đầu đếm ngược một khoảng thời gian định trước, sau khi đếm xong thì búa gõ sẽ rớt xuống và lựu đạn phát nổ. Bằng cách đó, lựu đạn hẹn giờ có thể “đếm” chính xác thời gian phát nổ hơn là loại sử dụng cơ chế dây dẫn trình bày ở trên.

Ngoài ra, một số loại súng phóng lựu hiện đại sử dụng hệ thống kích nổ điện tử còn có thể bắn liên thanh chứ không phải bắn phóng từng viên như trước đây. Mỗi quả lựu đạn sẽ được làm nhỏ lại, có kích thước cỡ một viên đạn truyền thống, bên trong có chứa các cảm biến vị trí bằng điện tử. Lúc này người lính có thể bắn liên tục như súng trường và mỗi viên đạn khi chạm vào mục tiêu sẽ phát nổ chứ không chỉ đâm xuyên như các viên đạn thông thường. Tuy nhiên do kích thước của mỗi viên đạn/lựu đạn khá nhỏ, chứa ít chất nổ nên phạm vi phát nổ của nó không lớn bằng các quả lựu đạn cầm tay, nhưng với tốc độ bắn phá liên tục thì đây lại là một thứ vũ khí nguy hiểm có sức công phá rất cao.

 

[IMG]

Súng máy Mark 19 Mod 3 (MK19) với mỗi viên đạn là một quả lựu đạn nhỏ

 

Thậm chí vào năm ngoái,  quân đội  Mỹ còn cho phát triển một loại súng có khả năng điều khiển được thời gian phát nổ của từng viên đạn bắn ra. Loại súng đó có tên là XM25, có khả năng tự động đo khoảng cách từ người lính tới mục tiêu và nhập số liệu đó vào con chip có trong viên đạn. Để khi bắn ra, viên đạn sẽ tự động đo khoảng cách đường bay của nó, khi bay hết quãng đường đã nhập, nó sẽ tự động phát nổ và gây sát thương cho mọi thứ xung quanh. XM25 được xem là thứ vũ khí cực kỳ lợi hại và nguy hiểm dùng để đối phó với những tay súng núp sau những bức tường hay chướng ngại vật mà ta khó bắn trúng được. Giá của mỗi cây XM25 có giá khoảng 25.000$ và mỗi viên đạn có giá 25$.

Một số loại lựu đạn khác

Trên đây là loại lựu đạn sát thương, ngoài chúng ra ta còn có nhiều loại lựu đạn khác với nhiều chức năng khác nhau, ví dụ như lựu đạn cháy, lựu đạn khói, lựu đạn hơi cay hay lựu đạn gây choáng. Quân đội thường sử dụng lựu đạn nổ để gây sát thương, cảnh sát dùng lựu đạn hơi cay để trấn áp đám đông, tội phạm, lựu đạn khói dùng để tung hỏa mù hoặc làm tín hiệu còn lựu đạn cháy thường được dùng để phá hủy nhanh những thứ cần tiêu hủy ví dụ như tài liệu, xe cộ, quân trang…

 

[IMG]

 

 

5. Lựu đạn khói

Lựu đạn khói thường được dùng để làm tín hiệu giữa các nhóm người trên mặt đất (trong rừng rậm, núi cao…), giữa mặt đất với máy bay (ra tín hiệu hạ cánh, phát tín hiệu cấp cứu…) hoặc cũng có thể dùng để “tung hỏa mù” che mất tầm nhìn của đối phương để quân ta dễ dàng thoát khỏi vòng vây. Chúng có hình dạng ống, thon dài, vỏ bằng kim loại, bên trên và dưới đều có nhiều lỗ để thải khói ra ngoài.

Có hai loại lựu đạn khói: một loại khói màu (để ra tín hiệu) và một loại khói mù (để hạn chế tầm nhìn). Lựu đạn khói màu chứa từ 250-350 gram hợp chất khói có màu sắc (thường là hợp chất Kali Clorat, đường Lactose và chất nhuộm). Còn khói mù sử dụng hợp chất khói HC (HexaChloroEthane/Kẽm) hoặc TA (Terephthalic Acid). Khói HC rất có hại khi ta hít phải vì nó chứa chất Axít Clohiđric, ngoài ra loại lựu đạn này còn có thể tạo nhiệt nhiều đến nỗi có thể làm bỏng hoặc cháy da.

 

[IMG]

Lựu đạn khói M18 và cấu tạo bên trong của nó

 

[IMG]

6. Lựu đạn hơi cay

Dùng để dẹp loạn hay giải tán đám đông. Nó có hình dạng giống như lựu đạn khói, bên trong chứa từ 80-120 gram khí gas CS (viết tắt của 2-chlorobenzalmalononitrile) và trộn với một hợp chất pháo hoa (Pyrotechnic) để tạo ra một làn khói chứa đầy các khí CS. Nếu hít phải loại khí này sẽ làm cho mắt rất cay và rát.

 

[IMG]

Lựu đạn cay M7A2 và M7A3 cùng cấu tạo bên trong

 

[IMG]

 

7. Lựu đạn cháy

 

Lựu đạn cháy có chức năng dùng phản ứng hóa học để tạo ra thật nhiều nhiệt và gây cháy. Mục đích là để tiêu hủy nhanh nhiều thứ vật dụng trong thời gian ngắn ví dụ như tài liệu, hồ sơ mật, quân trang, các loại khí tài… Chúng cũng có hình dạng như lựu đạn khói, bên trong chứ từ 600-800 gram chất Thermate (là loại chất nâng cao của chất nhiệt nhôm – Thermite). Khi phát nổ, một phản ứng nhiệt nhôm sẽ xảy ra, trong đó các hạt nhôm dạng bột và Oxít Sắt sẽ phản ứng với nhau để nung chảy Sắt và Oxít Nhôm. Phản ứng này sẽ tạo ra một lượng nhiệt vô cùng lớn, lên đến 2.200 độ C và đủ sức phá hủy nhiều loại đồ vật khác nhau.

Do phản ứng sinh nhiệt này không cần khí Oxy nên nó có thể “cháy” cả khi ở dưới nước. Đây cũng là loại lựu đạn có thời gian phát nổ khá nhanh, chỉ khoảng 2 giây. Bên cạnh đó người ta còn có thể dùng chất Phốt-pho trắng để thay thế chất Thermite. Loại lựu đạn dùng Phốt-pho trắng có thể tạo ra lượng nhiệt đến 2.800 độ C và rất độc. Chỉ cần 50-100 miligram Phốt-pho trắng là có thể giết chết một người trung bình.

 

[IMG]

Lựu đạn cháy AN-M14 và cấu tạo của nó

 

[IMG]

 

8. Lựu đạn gây lóa (Flashbang) 

Lựu đạn gây lóa mắt được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như Stun grenadeFlash grenade hay Flashbang. Đây là loại lựu đạn không gây nguy hiểm đến tính mạng mà chỉ được dùng để làm tê liệt các giác quan của đối phương trong một khoảng thời gian ngắn. Khi kích nổ Flashbang, những người gần đó sẽ rơi vào tình trạng bị lóa mắt, mọi thứ đều trở nên trắng toát đồng thời họ cũng không thể nghe thấy gì cả.

Nguyên tắc hoạt động của Flashbang đó là khi kích nổ, nó sẽ phát ra những luồng ánh sáng cực mạnh có tác dụng kích thích mọi tế bào nhạy sáng trong mắt con người, làm cho họ tạm thời bị lóa mắt trong khoảng 5 giây, trước khi các tế bào mắt trở về trạng thái bình thường lúc chưa bị kích thích. Ngoài ra, âm thanh phát ra khi Flashbang nổ còn có thể làm xáo trộn chất dịch ngoại bên trong lỗ tai làm cho họ không thể nghe thấy gì.

Bên trong loại lựu đạn này có chứa khoảng 4,5 gram hỗn hợp chất oxy hóa kim loại pháo hoa bao gồm Magie hoặc Nhôm và một chất oxy hóa khác như Amoni Perchlorate hoặc Kali Perchlorate. Chúng không bị phân mảnh khi nổ mà vẫn còn nguyên xi. Trên thân của nó có nhiều lỗ để ánh sáng và âm thanh có thể thoát ra ngoài khi nổ. Tuy nó không phát nổ như loại lựu đạn sát thương nhưng sức nóng tỏa ra của nó có thể làm cháy các vật liệu dễ cháy xung quanh ví dụ như xăng.

 

 

[IMG]

Lựu đạn Flashbang M84

 

[Discovery] Lịch sử chiếc máy tính bỏ túi

banner.

Chiếc máy tính bỏ túi là dụng cụ học tập quen thuộc đối với nhiều thế hệ học sinh – sinh viên. Ngoài một công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc học tập và thi cử, máy tính còn được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác như kinh doanh, tài chính và trong nhiều lĩnh vực chuyên môn khác. Một thiết bị đơn giản có thể thay thế bạn tính toán những phép tính đơn giản mà không cần dùng phương pháp truyền thống là viết ra giấy hay tính nhẩm. Máy tính giúp con người thực hiện được các phép tính chính xác và nhanh chóng hơn. Đằng sau thiết bị hữu ích và đơn giản này là cả một quá trình nghiên cứu, cải tiến và chế tạo từ đơn giản đến phức tạp của nhiều nhà phát minh. Chuyên mục “mỗi tuần 1 phát minh” tuần này mời các bạn ngược thời gian về 2000 năm về trước và cùng nhìn lại lịch sử phát triển của thiết bị hữu ích này từ chiếc bàn tính sơ khai ban đầu đến chiếc máy tính khoa học chuyên dụng nhé.

Máy tính cơ học – Tiền thân của máy tính điện tử

Công cụ tính toán số học đầu tiên được biết đến là chiếc bàn tính (Abucus) được sử dụng bởi những người Sumer, người và người Ai Cập vào 2000 năm trước công nguyên. Sau đó, bàn tính được sử dụng rộng rãi ở các nước Châu Á, châu Phi và nhiều vùng lãnh thổ khác chủ yếu bởi các thương nhân.

01 ban tinh.
Chiếc bàn tính của người La Mã

Đến thời kỳ Phục Hưng, năm 1642, thiên tài toán học Blaise Pascal (1623-1662) phát minh ra máy tính cơ học, thiết bị đầu tiên có thể thực hiện các phép tính cơ bản mà không cần sử dụng trí tuệ của con người. Thiết bị có thể thực hiện trực tiếp phép tính cộng và trừ, phép nhân và chia được thực hiện theo phương pháp lặp lại nhiều lần phép cộng.

02 Metiers_Pascaline_dsc03869.
Máy đếm của Pascal có kèm theo chữ ký của ông vào năm 1652

 

Video mô tả cách hoạt động của máy đếm Pascal

Theo sau Pascal là Gottfried Leibniz (1646-1716), nhà toán học người Đức đã dành 40 năm để thiết kế máy tính cơ học có thể thực hiện được 4 phép tính cơ bản cộng, trừ, nhân, chia một cách trực tiếp. Công trình của ông chỉ dừng lại ở bánh xe Leibniz mà chưa đưa ra được một cỗ máy tính toán hoàn thiện. Bánh xe Leibniz là một ống hình trụ với các rãnh bên ngoài có độ dài tăng dần được dùng để đếm số lần quay của bánh răng. Bánh xe Leibniz nổi tiếng này được tiếp tục sử dụng rộng rãi trong các máy tính cơ khí cho đến khi máy tính điện tử ra đời.

03 Cylindre_de_Leibniz_animé.
Hoạt động của bánh xe Leibniz

Đến thế kỷ 18, thế giới chứng kiến được nhiều cải tiến thú vị từ chiếc máy tính cơ ban đầu. Đặc biệt phải kể đến là chiếc đồng hồ tính toán có khả năng thực hiện được 4 phép tính của Giovanni Poleni (1683-1761), một nhà vật lý và toán học người Ý, nhưng đây chỉ là một đóng góp cho sự phát triển của máy tính chứ chưa phải là một thiết bị hoàn chỉnh. Mãi cho đến thế kỷ 19 với cuộc các mạng công nghiệp mới là thời kỳ máy tính cơ được phổ biến rộng rãi. Thời gian này, những chiếc máy tính cơ trong quá khứ được đưa vào sản xuất công nghiệp với số lượng lớn và mẫu mã hiện đại hơn.

Đến năm 1820, máy đếm còn gọi là máy cộng dồn tích (Arithmometer hoặc Arithmomètre) được phát minh bởi nhà nhà phát minh người Pháp Thomas de Colmar (1785-1870). Đây là chiếc máy tính cơ đầu tiên đủ mạnh và độ tin cậy để sử dụng trong công việc hàng ngày tại các văn phòng. Thiết bị được cấp bằng sáng chế vào 1820 và sản xuất thương mại từ năm 1851. Arithmometer có thể thực hiện được chuỗi các phép cộng và trừ một cách trực tiếp, thực hiện phép nhân số lớn và cho ra kết quả được dồn tích và ghi trên một dải ruy băng. 40 năm sau, tính đến năm 1890 đã có khoảng 2500 chiếc máy đếm được sản xuất thương mại và bán ra thị trường. Đây là bước tiến quan trọng trong quá trình chuyển tính toán bằng trí tuệ con người sang sử dụng máy móc vào nửa sau thế kỷ 19.

04 Arithmometre.
Máy cộng dồn tích Arithmomètre

Năm 1902, chiếc máy tính đầu tiên có sử dụng phím bấm mang tên Máy cộng Dalton được phát minh bởi nhà phát minh người Mỹ James L. Dalton (1833-1887).

05 dalton_178529_kuva_126_iso.
Máy tính có phím bấm đầu tiên của Dalton

Năm 1948, Curt Herzstark (1902-1988), một kỹ sư người Australia đã phát minh ra máy tính cơ Curtas có khả năng thực hiện được 4 phép tính cơ bản, đồng thời có thể thực hiện được phép rút căn bậc 2 và một số phép toán khác dù khá khó khăn. Máy tính cơ Curtas kế thừa bánh xe đếm nổi tiếng của Leibniz kết hợp với máy đếm của Thomas để tạo nên một thiết bị tính hình trụ nhỏ gọn trong lòng bàn tay được vận hành bằng một tay quay phía trên. Dù giá thành sản xuất khá đắt tiền, Curtas được xem là máy tính cơ xách tay tốt nhất mãi cho đến sự ra đời của máy tính điện tử sau này.

06 Curta_-_National_Museum_of_Computing.
Máy tính cơ Curtas của Curt Herzstark

 

Video phương pháp hoạt động của máy tính cơ Curtas

Sự ra đời của máy tính điện tử:

Các máy tính cỡ lớn đầu tiên có sử dụng ống chân không và sau đó là các transistor để giải các thuật toán logic xuất hiện vào những năm 1940 đến 1950. Công nghệ này là bước tiến vĩ đại cho sự hình thành của máy tính điện tử.

Vào năm 1957, công ty máy tính điện tử Casio, Nhật Bản cho ra đời máy tính Model 14-A. Đây là máy tính điện tử toàn phần với thiết kế nhỏ gọn đầu tiên trên thế giới. 14-A không sử dụng logic điện tử mà dựa trên công nghệ chuyển tiếp được tích hợp vào bàn điều khiển để giải quyết các phép tính.

07 CASIO_14-A.
Hình ảnh chiếc máy tính Casio Model 14-A

Đến tháng 11 năm 1961, ANITA (A New Inspiration To Arithmetic/Accounting) máy tính giao diện điện tử toàn phần đầu tiên trên thế giới được công bố bởi công ty máy tính thương mại Anh Bell Punch. Cỗ máy này sử dụng các ống chân không, ống ca-tôt lạnh và Dekatron (ống khí đếm 3 giai đoạn) để giải quyết các phép toán. Màn hình hiển thị được chế tạo từ 12 ống ca-tôt lạnh tạo thành đèn Nexie. 2 Model của ANITA là MK VII và MK VIII được phổ biến rộng rãi khắp châu Âu và nhiều nơi trên thế giới vào đầu năm 1962. MK VII có thiết kế nhẹ và thực hiện được các phép nhân phức tạp. Sau đó MK VIII ra đời với thiết kế và cách vận hành đơn giản hơn. Tuy ANITA có đầy đủ bàn phím và áp dụng các thiết bị điện tử để thực hiện phép tính, nhưng vẫn hoạt động dựa trên nguyên lý đếm của các máy tính cơ đương thời. Chính vì lẽ đó, đến khi máy tính điện tử sử dụng thuật toán logic ra đời, ANITA nhanh chóng bị chìm vào quên lãng.

08 674px-AnitaMk8-01.
Hình ảnh chiếc máy tính ANITA MK VIII

Đến năm 1963, công nghệ ống ca-tôt chân không của công ty Bell Punch được nhà sản xuất Friden của Mỹ thay thế bằng phương pháp sử dụng các transistor. Nhà sản xuất Friden cho ra đời mẫu máy tính EC-13 với màn hình CRT 13 cm hiển thị được 13 ký tự. EC-13 được giới thiệu đến thị trường với các ký pháp RPN (reverse Polish notation – Ký pháp toán học Ba Lan ngược) với giá 2200 USD, đắt hơn gấp 3 lần so với các máy tính cơ đương thời.

09 a-fri130intro-2.
Máy tính Friden C-13 của nhà sản xuất Friden
Video sử dụng máy tính Friden

Năm 1964, máy tính CS-10A sử dụng số lượng transistor lớn hơn được công ty Sharp giới thiệu. CS-10A nặng 25 kg và được bán ra thị trường với giá 500.000 Yên (khoảng 2500 USD). Cùng thời gian đó, công ty sản xuất máy công nghiệp Elttroniche của Ý giới thiệu máy tính IME 84 với bàn phím được bổ sung thêm và trang bị màn hình rộng hơn.

Tiếp theo đó là hàng loạt các mô hình máy tính điện tử đến từ các nhà sản xuất như Canon, Mathatronics, Olivetti, SCM (Smith-Corona-Marchant), Sony, Toshiba, và Wang. Các mẫu máy tính thời gian này đều sử dụng các transistor germanium (có giá rẻ hơn transistor silicon) gắn trên các bảng mạch điện tử. Các loại màn hình được sử dụng bao gồm màn hình CRT, ống ca-tôt lạnh và đèn filament. Máy tính thường sử dụng bộ nhớ trễ hoặc lõi từ tính. Bên cạnh đó, Toshiba cho ra đời máy tính Toscal BC-1411 sử dụng thành phần bộ nhớ hoạt động tương tự như một hệ thống RAM được ghép từ các linh kiện rời rạc. BC-1411 có thiết kế nhỏ gọn hơn và tiêu thụ năng lượng ít hơn.

10 toshbc1411.
Hình ảnh chiếc máy tính Toscal BC-1411 của Toshiba

Năm 1965, công ty Olivetti giới thiệu Olivetti Programma 101, một máy tính chứa chứa chương trình được soạn sẵn cho phép đọc và ghi lên một thẻ từ đồng thời in kết quả thông qua một máy in được tích hợp bên trong. Programma được trang bị bộ nhớ, dây trễ âm có khả năng thực hiện thuật toán được lập trình sẵn qua từng bước, tích hợp sẵn các hàm số và có khả năng ghi dữ liệu. Programma 101 còn có khả năng đọc và ghi dữ liệu lên một thẻ từ. Đây chính là chiếc máy tính cá nhân đầu tiên (máy tính được lập trình sẵn cho những người dùng không biết lập trình) và đã được trao tặng nhiều giải thưởng công nghiệp.

11 Olivettiunderwood_programma101.
Máy tính Programma 101 của Olivetti

Một mẫu máy tính khác được giới thiệu vào năm 1965 là Bulgaria’s ELKA 6521 được phát triển bởi Học viện công nghệ máy tính và được chế tạo tại nhà máy Elektronika, Sofia. ELK 6521 nặng 8 kg và là máy tính đầu tiên trên thế giới có thể thực hiện chính xác phép rút căn bậc 2. Cuối năm 1965, ELKA 22 ra đời với màn hình huỳnh quang và tiếp theo đó là ELKA 25 với máy in kết quả được tích hợp sẵn. Một số mẫu thiết kế sau đó với các cải tiến cũng được sản xuất cho đến khi ELKA 101 ra đời vào năm 1974 dù trọng lượng máy vẫn còn khá nặng.

12 508px-Elka6521.
Mẫu máy tính Bulgaria’s ELKA 6521

Cuối cùng, vào năm 1967, công ty máy tính vẫn còn nổi tiếng cho đến ngày nay là Texas Instrument đã phát triển máy tính mang tên Cal Tech có khả năng thực hiện 4 phép tính cơ bản và ghi kết quả hiển thị trên một băng giấy. Cal Tech chính là chiếc máy tính cầm tay đầu tiên trên thế giới với khả năng tính toán chính xác và đáng tin cậy.

13 CAL-TECH_M2.
Máy tính “Cal Tech” của công ty nổi tiếng Texas Instrument

Giai đoạn thập niên 1970 đến 1980: Máy tính đã có thể bỏ túi!

Nếu các máy tính ở những năm 1960 với kích thướt lớn, sử dụng hàng trăm bóng bán dẫn trên nhiều bảng mạch, sử dụng nguồn điện 1 chiều, tiêu thụ lượng điện năng lớn thì trong giai đoạn 1970, sự ra đời của vi mạch và các chip điện tử là một giải pháp vô cùng đáng giá. Các nhà sản xuất đã nỗ lực tạo nên các bảng vi mạch với các bóng bán dẫn kích thướt nhỏ được tich hợp sẵn bên trong cho phép tạo nên các máy tính với kích thước nhỏ gọn hơn. Từ đó đã hình thành nên các liên minh công nghệ giữa Nhật và Mỹ bao gồm: Canon Inc. với Texas Instruments, Hayakawa Electric (sau này là tập đoàn điện tử Sharp) với Công ty vi điện tử Bắc Mỹ Rockwell, Busicom với Mostek và Intel, và General Instrument với Sanyo. Các liên minh công nghẹ đã tạo nên máy tính có kích thướt nhỏ và tiêu thụ điện năng ít hơn, có thể sạc được.

Tiếp theo thành công của Texas Instruments là các máy tính cầm tay có khả năng sạc đến từ Nhật Bản. Đó là “máy tính mini” ICC-0081 của Sanyo, Pocketronic của Canon và “Micro Compet” QT-8B của Sharp. Trong số các máy tính nêu trên, Pocketronic không có màn hình hiển thị. Thay vào đó, kết quả tính toán được in trực tiếp lên giấy nhiệt.

Bằng nỗ lực rất lớn trong việc tạo nên máy tính kích thước nhỏ và tiêu thụ ít điện năng, năm 1971, Sharp cho ra đời máy tính Sharp EL-8 (còn có tên gọi khác là Facit 1111) với kích thướt nhỏ gọn, chỉ nặng 155 gram, trang bị màn hình huỳnh quang chân không và sử dụng pin NiCad có thể sạc được. EL-8 được bán ra thị trường với giá 395 USD.

14 Sharp_EL-8.JPG
Máy tính Sharp EL-8

Tiếp theo, vào năm 1971, Pico Electronic và General Instrument cho ra đời máy tính sử dụng IC được tích hợp chỉ một chip xử lý duy nhất mang tên Monroe Royal Digital III. Đây chính là thành công vượt bậc trong việc chế tạo các máy tính nhỏ gọn có thể bỏ túi.

15 moral .
Máy tính nhỏ gọn Monroe Royal Digital III

Cuối cùng, chiếc máy tính có thể thật sự có thể bỏ túi đã ra đời vào năm 1971. Đó là mẫu máy tính LE-120A do công ty Busicom của Nhật sản xuất. LE-120A “HANDY” là máy tính đầu tiên được trang bị màn hình LED hiển thị kết quả. Đây cũng là máy tính cầm tay đầu tiên sử dụng 1 vi xử lý duy nhất để giải quyết các thuật toán.

16 LE 120 A.
Máy tính bỏ túi LE-120A HANDY của Busicom

Tiếp theo thành công của LE-120A là mẫu máy tính Mostek MK-6010, máy tính đầu tiên sử dụng pin 4 pin AA có thể thay thế được. MK6010 có kích thướt 124x72x24 mm, kích thướt nhỏ gọn nhất thời bấy giờ.

18 MOstek MK 6010 calc.
Máy tính đầu tiên sử dụng pin AA, Mostek MK-6010

Trong khi đó, năm 1972, Hewlett packard (HP) cho ra đời mẫu máy tính bỏ túi HP-35 với giá 395 USD. HP-35 không sử dụng phương pháp nhập liệu đầu vào thông thường, đây là mẫu máy tính điện tử bỏ túi đầu tiên sử dụng ký pháp RPN (còn gọi là ký hiệu tiền tố) để thực hiện các phép tính khoa học. Đây là phương pháp theo chuẩn tính toán của người Do Thái, nếu muốn thực hiện phép tính “8 cộng 5”, theo phương pháp thường, người ta gõ các phím theo thứ tự [8], [+], [5], [=]. Nhưng theo hệ RPN, ta gõ [8], [Enter|], [5], [+] và kết quả sẽ được hiển thị.

19 HP_35_Calculator.
Máy tính HP-35

Năm 1973, Sinclair Cambridge, chiếc máy tính giá rẻ đầu tiên được bán ra với giá chỉ có 29,95 Bảng Anh. Tuy nhiên, do được sản xuất với giá thành rẻ nên Sinclair vấp phải vấn đề về tính chính xác của kết quả, đặc biệt là khi tính toán các hàm số siêu việt. Cũng trong thời gian này, Texas Instrument cho ra đời máy tính khoa học SR-10 được bổ sung thêm khả năng tính toán theo biến “n” và sau đó là mẫu SR-50 với khả năng tính toán hàm số logarit và lượng giác để cạnh tranh với HP-35. Cả 2 mẫu máy tính khoa học của Texas Instruments và HP đều được tiếp tục phát triển và sản xuất cho đến ngày nay.

20 Sinclair_cambridge_17o06.
Máy tính giá rẻ đầu tiên SInclair Cambridge

Năm 1978, một công ty mới là Calculated Industries nhảy vào thị trường sản xuất máy tính khoa học với các mẫu máy dành riêng cho từng lĩnh vực cụ thể. CI đã cho ra đời các mẫu máy Loan Arranger dành cho các hàm tài chính, Construction Master dùng để tính toán các thông số tiêu chuẩn chuyên ngành xây dựng.

Giai đoạn giữa những năm 1980 đến nay

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ cho phép các nhà sản xuất chế tạo máy tính khoa học giá rẻ. Các máy tính thông thường với các chức năng tính toán cơ bản chỉ có giá vào khoảng vài USD nhưng vẫn cho phép thực hiện các phép tính một cách chính xác và đáng tin cậy.

21 HP-28C-M.JPG
Máy tính HP-28C có thể giải phương trình bậc 2

Năm 1987, máy tính HP-28C ra đời. Đây là máy tính đầu tiên sử các ký hiệu toán học để tính toán và giải phương trình bậc 2. Năm 1985, máy tính đầu tiên có khả năng vẽ đồ thị theo một hàm số cho trước là Casio FX-7000G được ra mắt.

22 Casio_fx-7000G_Box&Manual.JPG
Máy tính vẽ đồ thị đầu tiên – Casio FX-7000G

Hai nhà sản xuất máy tính tiên phong là HP và TI liên tục cho ra mắt các máy tính khoa học được cải tiến, bổ sung thêm chức năng từ năm 1980 đến những năm 1990.

Bước sang thế kỷ 21, ranh giới giữa máy tính đồ họa và một máy vi tính xách tay ngày càng mong manh hơn. Các máy tính khoa học hiên đại như TI-89, Voyage 200 và HP-49G đều có thể tính toán được các hàm vi phân và tích phân, giải được các phương trình vi phân, xử lý các chuỗi ký tự và chạy phần mềm quản lý dữ liệu cá nhân. Các máy tính còn được trang bị kết nối không dây và cổng hồng ngoại để giao tiếp với máy vi tính hay các máy tính khoa học khác.

Máy tính tài chính HP-12C ra đời vào năm 1981 với nhiều nhiều chức năng hữu ích vẫn còn được tiếp tục sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay. HP-12C vẫn trung thành với phương pháp nhập liệu tiền tố RPN. Cho đến năm 2003, hàng loạt các phiên bản cải tiến của HP-12C được sản xuất. Nổi bật nhất là phiên bản “HP-12C platinum edition” được trang bị nhiều bộ nhớ hơn, tích hợp sẵn nhiều hàm tài chính và thêm vào đó là chế độ nhập dữ liệu đại số.

23 Hp12c.
Máy tính tài chính huyền thoại HP-12C

HP-12C là máy tính cực kỳ nổi tiếng và được người dùng trong lĩnh vực tài chính ưa chuộng do được tích hợp sẵn các hàm số tài chính hiện đại như “I”, “PV”, “FV” và dễ dàng tính được các chỉ số lãi, lãi ròng, giá trị của dòng tiền theo thời gian,… Tuy nhiên do vẫn sử dụng phương pháp nhập liệu theo chuẩn Do Thái nên gây sự khó khăn trong quá trình sử dụng cho những người không có kiến thức chuyên môn.

Từ những năm 1990 đến nay, các máy tính bỏ túi luôn được các nhà sản xuất hiện đại hóa và cho ra đời những mẫu sản phẩm có tính chuyên môn hóa cao hơn để phù hợp với nhiều lĩnh vực.

casio fx 570.
Máy tính Casio FX-570 MS – Gắn liền với thế hệ học sinh 9X Việt Nam

Kết

Vậy là qua hơn 400 năm, từ chiếc máy đếm cơ học sơ khai của Pascal, trải qua chiếc bánh xe huyền thoại của Leibniz, cho đến chiếc máy tính CS-10A của Sharp nặng 25 kg, qua bao nỗ lực đến ELK 6521 giảm xuống còn 8 kg, rồi LE-120A “HANDY” của Busicom đã có thể bỏ túi, cuối cùng qua hàng loạt cải tiến và nâng cấp về chương trình cũng như phần cứng, chúng ta đã có chiếc máy tính bỏ túi chỉ chiếm một ngăn nhỏ trong chiếc cặp của học sinh mà trong lượng chưa đến 200 gram. Vẫn là câu nói khi viết về các phát minh, thật thán phục trước nỗ lực và khả năng sáng tạo của con người đặc biệt là các nhà phát minh: “Biến cái không thể thành có thể” để cuộc sống của con người trở nên đơn giản và dễ dàng hơn.

Cám ơn các bạn đã theo dõi bài viết, hẹn gặp lại các bạn trong chủ đề lần tới của chuyên mục “Mỗi tuần 1 phát minh” được phát hành định kỳ vào Chủ nhật hàng tuần trên tinhte.vn. Chúc các bạn có một ngày cuối tuần vui vẻ. :)