[Technology] Các nhà nghiên cứu phá thành công khóa mã hóa an toàn nhất hiện nay bằng âm thanh

tấn-công-âm-thanh. ​
Mới đây, các nhà nghiên cứu tại đại học Tel Aviv và viện khoa học Weizmann (Israel) đã thành công trong việc giải mã một trong những thuật toán mã hóa an toàn nhất hiện nay là RSA 4096 bit bằng cách dùng microphone để lắng nghe một chiếc máy tính khi nó giải mã dữ liệu đã mã hóa. Cuộc tấn công của các chuyên gia bảo mật khá đơn giản và có thể được thực hiện với các phần cứng thô sơ.

Daniel Genkin, Adi Shamir (2 nhà đồng sáng lập thuật toán RSA) và Eran Tromer đã sử dụng một kỹ thuật có tên gọi “side channel attack” (tấn công kênh bên) để giải mã âm thanh. Một kênh bên (side channel) là một kênh tấn công trung gian, khác thường và không đảm bảo bảo mật. Có thể hình dung như sau, trên điện thoại bạn đặt mật mã số để khóa máy. Bạn đưa điện thoại cho 1 ai đó thì người ta không thể trực tiếp xâm nhập vào bên trong nếu không có mã số. Tuy nhiên, nếu họ có thể đoán mật khẩu bằng cách nhìn vào các vết vân tay, vết dơ trên màn hình để mở khóa thì đây là một kênh bên. Trong trường hợp này, các nhà nghiên cứu bảo mật đã lắng nghe âm thanh tần số cao (từ 10 đến 150 KHz) do máy tính tạo ra khi nó giải mã dữ liệu.

Nghe có vẻ điên rồ nhưng với những phần cứng phù hợp, điều này hoàn toàn có thể xảy ra. Để khởi đầu, bạn cần biết chính xác tần số âm thanh để lắng nghe và sử dụng các bộ lọc tần số cao/thấp để đảm bảo chỉ nghe những âm thanh phát ra từ máy tính khi CPU giải mã dữ liệu. Trên thực tế, tín hiệu âm thanh được tạo ra bởi bộ điều áp của CPU khi nó cố gắng duy trì điện áp không đổi trong nhiều điều kiện xử lý nặng nhẹ khác nhau. Sau đó, một khi bạn đã có được tín hiệu, bạn sẽ giải mã tín hiệu thành thông tin có nghĩa.

tấn-công-âm-thanh-2.
Ảnh phổ đo tần số âm thanh của các hoạt động khác nhau của CPU được microphone Bruel&Kjaer 4939 ghi lại. Trục hoành là tần số (0 – 310 kHz), trục tung là thời gian (3,7 giây) và mật độ là tỉ lệ tương ứng với mức năng lượng tức thời trong băng tần.

Các nhà nghiên cứu đã tập trung vào một phần mềm mã hóa rất đặc trưng có tên GnuPG 1.x (một phiên bản nguồn mở/miễn phí của PGP hay Pretty Good Privacy – phần mềm mã hóa và giải mã dữ liệu bảo mật. PGP thường được dùng cho các khâu đăng nhập, mã hóa và giải mã văn bản, email, tập tin, thư mục và cả phân vùng ổ đĩa. PGP được tạo ra bởi Phil Zimmermann vào năm 1991). Bằng một số phép phân tích giải mã thông minh, các nhà nghiên cứu đã có thể lắng nghe tín hiệu rò rỉ từ CPU khi nó đang giải mã dữ liệu. Sau đó, họ tiếp tục nghe các luồng âm thanh để tiến đoán khóa giải mã. Phương pháp tấn công này không hoạt động trên các hệ mã hóa hoặc phần mềm mã hóa khác. Nếu muốn thực hiện, họ phải bắt đầu lại từ đầu và nghe lại toàn bộ âm thanh rò rỉ.

Kết quả từ hoạt động tấn công trên là họ đã thành công trong việc giải mã các khóa mã hóa trong một khoảng cách 4 m với một chiếc microphone chất lượng cao hình chảo parabol. Hấp dẫn hơn, họ còn tìm cách thực hiện cuộc tấn công với một chiếc smartphone để cách chiếc laptop 30 cm. Nhóm nghiên cứu đã thực hiện cuộc tấn công trên nhiều chiếc laptop và desktop khác nhau với nhiều cấp độ thành công. Điều đáng chú ý là dữ liệu điện cùng loại có thể được dự đoán từ nhiều nguồn – chẳng hạn như từ jack cắm điện trên tường, từ đầu cuối của sợi cáp Ethernet hoặc chỉ đơn thuần là chạm vào chiếc máy tính.

tấn-công-âm-thanh-3.
Thiết lập cơ bản với máy tính A đang giải mã và microphone B, các thành phần khác có thể được giấu đi.​

Trên thực tế, hoạt động giải mã qua tín hiệu âm thanh thực sự là một mối nguy hiểm tiềm năng. Thử nghĩ nếu như bạn đang giải mã một số tập tin trên máy tính trong khi đang ngồi ở thư viện, quán café, hay một địa điểm công cộng … ai đó có thể lấy được khóa mã hóa của bạn chỉ đơn giản bằng cách đặt chiếc điện thoại của họ gần chiếc máy tính mà bạn đang dùng. Thêm nữa, một kẻ tấn công có thể sử dụng tín hiệu âm thanh để đưa malware vào điện thoại của bạn để lắng nghe các khóa mã hóa. Với việc mã HTML5 và Flash có thể được truy xuất vào phần cứng như microphone, kẻ tân công hoàn toàn có thể phát triển một trang web để lắng nghe khóa mã hóa. Các nhà nghiên cứu tậm chí còn nghĩ ra một kịch bản khủng khiếp hơn: Đặt một chiếc microphpne vào một máy chủ – chiếc máy chủ này đặt trên giá cùng với các máy chủ khác trong một trung tâm dữ liệu và microphone sẽ âm thầm thu thập khóa mã hóa từ hàng trăm máy chủ gần đó.

Nếu bạn muốn đảm bảo dữ liệu được an toàn, chỉ có 2 lựa chọn: 1 là mã hóa cực mạnh, 2 là bảo vệ dữ liệu theo phương pháp vật lý hoặc cả 2 giải pháp cùng lúc. Nếu một kẻ tấn công không thể tiếp cận vật lý với dữ liệu, dĩ nhiên khả năng đánh cắp khóa mã hóa sẽ khó khăn hơn. Vì vậy, trước những cuộc tấn công qua âm thanh tiềm tàng, bạn có thể sử dụng các giải pháp bảo vệ vật lý như đặt laptop vào các hộp cách ly âm thanh, không để ai lại gần máy tính khi đang giải mã dữ liệu hoặc sử dụng các nguồn âm thanh băng rộng tần số đủ cao để gây nhiễu.

Tấn công máy tính bằng âm thanh là một vấn đề đang được quan tâm trong thời gian gần đây. Ngay tháng trước, chúng ta đã được biết đến một loại malware có tên BadBiOS, phá hoại phần sụn và lây nhiễm từ máy này sang máy khác qua loa.

[Discovery] Lược sử tàu ngầm quân sự thế giới

lịch sử tàu ngầm thế giới

Tàu ngầm USS Florida thuộc lớp Ohio của Hải quân Mỹ. Tháng 5/2013. 

Tránh xa khỏi con mắt tò mò của người dân, thoát khỏi các vệ tinh và các máy bay do thám, biển sâu là nơi các quốc gia cất giữ một phần tiềm năng quân sự thực sự của mình. Thế nhưng, xuất phát điểm của tàu ngầm quân sự lại là rất khiêm tốn: Các mẫu tàu ngầm đầu tiên trong lịch sử chỉ được thiết kế để tấn công các con tàu ở gần bờ hoặc đang ở trong cảng và có động cơ bằng… tay. Turtle – chiếc tàu ngầm điều khiển bằng tay do nhà sáng chế Bushnell phát minh vào thập niên 1770 đã không thể đánh đắm bất cứ một con thuyền nào cả.

lịch sử tàu ngầm thế giới

Mô hình tàu ngầm Turtle trong cuộc Cách mạng Mỹ được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Hải quân Hoa Kỳ, cùng mô hình nhà sáng chế David Bushnell. 

Trong suốt một thời gian dài, tàu ngầm quân sự không hoạt động thành công. Đến khoảng 100 năm sau, trong cuộc nội chiến của nước Mỹ, tàu ngầm CSS H.L. Hunley của Liên minh Miền Nam Hoa Kỳ trở thành chiếc tàu ngầm đầu tiên trong lịch sử có thể đánh chìm thành công một chiếc tàu chiến. Nạn nhân đầu tiên của nó là tàu US Housatonic của quân đội miền Bắc. Tuy vậy, chính tàu Hunley cũng nhanh chóng bị chìm sau đó. Các cuộc khai quật sau này cho thấy rất có thể sau khi gắn thủy lôi vào tàu Housatonic, Hunley đã không di chuyển ra vị trí đủ xa và do đó bị ảnh hưởng bởi vụ nổ.

lịch sử tàu ngầm thế giới

Tranh vẽ tàu H.L. Hunley dựa trên một bức ảnh được chụp vào năm 1863. 

Trong khoảng thời gian tiếp theo, tàu ngầm dần dần trở thành một trong các biện pháp chính để bảo vệ các bờ biển. Tư tưởng dùng tàu ngầm để phòng thủ được tiếp tục cho tới khi quân đội Đức dùng tàu ngầm để di chuyển từ bờ biển của họ tới Quần đảo Anh trong Thế Chiến Thứ Nhất. Thế Chiến Thứ Hai đánh dấu sự ra mắt của những chiếc tàu ngầm quân sự với khoảng cách tấn công dài hơn. Ngay cả khi đã sở hữu nhiều tiến bộ về công nghệ, tàu ngầm của Đức, Nhật và Mỹ vẫn dành nhiều thời gian di chuyển trên mặt nước hơn là dưới mặt nước. Tàu ngầm trong Thế Chiến Thứ Hai thường chỉ lặn xuống khi phát hiện máy bay hoặc tàu thủy tới gần.

Càng ngày, khả năng phát hiện tàu ngầm của các bên tham chiến càng trở nên tốt hơn, do đó Liên Xô và Mỹ đã đẩy mạnh nghiên cứu để phát triển ra các mẫu tàu ngầm có thể dành nhiều thời gian dưới nước hơn. Phần lớn các nghiên cứu này được dựa trên các đột phá mà quân đội Đức Quốc Xã phát triển trong giai đoạn sau của cuộc chiến.

lịch sử tàu ngầm thế giới

Mô hình vẽ tàu ngầm Type XXI của Đức do Hải quân Mỹ phác thảo. 

Tàu ngầm Hạng XXI của Đức Quốc Xã, một chiếc tàu ngầm tân tiến hơn tất cả các mẫu tàu ngầm của quân đội Đồng Minh, đã được cả Nga và Mỹ nghiên cứu. Công nghệ từ XXI được áp dụng vào các mẫu tàu ngầm tiếp theo, ví dụ như ống thông hơi để tái tạo không khí và các loại cảm biến tân tiến, đã giúp tạo ra bước tiến lớn tiếp theo cho lĩnh vực phát triển tàu ngầm.

Đỉnh cao của các bước tiến này là vào năm 1955, khi tàu ngầm USS Nautilus được trang bị năng lượng hạt nhân của Hải quân Mỹ lập kỷ lục mới về thời gian ẩn mình dưới nước trong một chuyến đi tới Puerto Rico. Chuyến đi này có 2 mục đích: Biểu dương sức mạnh quân sự đối với Liên Xô trong Chiến Tranh Lạnh, và thay đổi hoàn toàn cách nghĩ về tàu ngầm quân sự – với vai trò vũ khí chiến tranh. Hyman Rickover, đô đốc “bảo thủ và cứng rắn” nhất của Hải quân Hoa Kỳ, là người trực tiếp dẫn đầu dự án Nautilus.

lịch sử tàu ngầm thế giới

Tàu ngầm hạt nhân trở thành một hiện tượng văn hóa, sau chuyến đi của Nautilus. 

Tàu ngầm có lò phản ứng hạt nhân có thể giúp tàu di chuyển trong hàng tuần liên tục, không cần nổi lên bờ. Bởi vậy, giới hạn duy nhất cho khả năng quân sự của các con tàu này là lượng thực phẩm cần thiết cho các thủy thủ.

Chuyến đi của Nautilus vào năm 1955 là một cú sốc lớn cho Liên Xô. 2 năm sau, Nga đáp trả với sự ra mắt của K3 Leninsky Komsomol. Trong khi tàu ngầm hạt nhân cho phép Mỹ và Nga có thể tấn công tàu thủy một cách bí mật, khả năng ở dưới nước hàng tuần lễ liền giúp tạo ra một vũ khí chiến lược mới: tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân.

lịch sử tàu ngầm thế giới

Ảnh chụp tàu K3 Leninsky Komsomol. 

Các mẫu tàu ngầm mới cùng với cuộc đua tên lửa không gian, các mối đe dọa hạt nhân và các nguy cơ tiềm ẩn trong Chiến tranh lạnh đã khiến mối quan hệ giữa Mỹ và Nga trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết. Bất cứ lúc nào, Mỹ hoặc Nga cũng phải đối mặt với nguy cơ một đầu đạn hạt nhân “bỗng dưng xuất hiện” từ những chiếc tàu ngầm nằm ngoài biển sâu – mối lo ngại này đã trở thành nội dung cho cuốn sách The Hunt for Red October và cũng có ảnh hưởng lớn tới văn hóa Mỹ thời điểm đó. Cả Mỹ và Nga đều sản xuất ra 2 loại tàu ngầm chính: Loại đi săn (tàu tấn công) và loại phá hoại/phòng ngự (tàu lớn).

Cuộc chiến giữa Mỹ và Nga trong Chiến tranh lạnh chủ yếu là thông qua quá trình theo dõi nhau. Cuộc chiến “lạnh” này đã chính thức kết thúc khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991. Trong những năm cuối của Chiến tranh lạnh, Mỹ đã phát triển ra dòng tàu ngầm Seawolf, đây là một trong những dòng tàu tấn công nhanh nhất, lặn sâu nhất và bền bỉ nhất trong lịch sử nhân loại.

lịch sử tàu ngầm thế giới

USS Seawolf. Ảnh của Hải quân Mỹ. 

Seawolf được thiết kế với mục đích chính là săn đuổi các con tàu lớn của Liên Xô trên đại dương, song sau Chiến tranh lạnh, cục diện cuộc chơi lại một lần nữa thay đổi. Sau khi sản xuất ra 3 chiếc Seawolf, Mỹ phát triển một dòng tàu ngầm mới với nhiệm vụ phòng thủ gần bờ hơn là ngoài biển: Tàu ngầm lớp US Virginia.

Tàu ngầm lớp US Virginia là dòng tàu ngầm chuyên đi tàu ngoài bờ biển nhằm thu thập thông tin tình báo, và cũng để hỗ trợ các nhóm đặc nhiệm. Ngược lại, đội quân tàu ngầm của Nga bị lãng quên. Trong khi không thể phát triển một đội tàu ngầm tuần tiễu trong nhiều năm liền, Nga vẫn hiểu rất rõ về tàu ngầm hạt nhân và hiện cũng đang phát triển nhiều lớp tàu ngầm mới.

Trong khi cả Mỹ và Nga đều dựa dẫm vào tàu ngầm hạt nhân, các thế lực khác đang nghiên cứu phát triển các động cơ diesel. Công nghệ động lực không cần không khí AIP giúp tàu ngầm không cần tới các ống thông hơi mà vẫn có thể hoạt động tốt. Do cuộc đua tàu ngầm giữa Mỹ và Nga đã ngừng lại, các mẫu tàu ngầm mới chủ yếu được phát triển để hoạt động gần bờ. Hiện nay, Đức, Thụy Điển, Pháp, Nga và Tây Ban Nha cùng các quốc gia khác đang tham gia xuất khẩu cho một cuộc đua tàu ngầm mới đang diễn ra do các tranh chấp tại Biển Đông.

Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang tự phát triển các mẫu tàu ngầm nội địa. Đâu đó dưới mặt biển thầm lặng, cuộc đua vũ trang đang trở nên sôi động hơn bao giờ hết, từng phút từng giây.

[Discovery] Những tập tính “quái gở” của côn trùng

Thiên nhiên luôn ẩn chứa biết bao nỗi đáng sợ vô hình bởi sự xuất hiện của những loài côn trùng nhỏ bé. Tuy nhiên, chỉ cần tìm hiểu kĩ hơn, chúng ta sẽ nhận ra, thế giới côn trùng tuy phức tạp nhưng ẩn chứa rất nhiều vẻ đẹp cùng hành vi săn mồi bí ẩn. Cùng điểm lại một vài hành vi bí ẩn và kỳ lạ của côn trùng qua tổng hợp của trang Listverse dưới đây.

1. Cuộc “hành quân” của sâu bướm

Đúng như tên gọi của mình, nơi cư ngụ của sâu bướm gỗ thông là những cánh rừng thông ở châu Âu và châu Á. Loài côn trùng tưởng chừng nhỏ bé vô tội này lại có sức hủy diệt khủng khiếp với khả năng tàn phá 73% cánh rừng thông chỉ trong vòng một thế hệ.

Những tập tính "quái gở đến đáng sợ" của côn trùng 1 

Khi mới sinh, thức ăn của sâu bướm chỉ là lá thông nhưng một khi đã đủ lớn, chúng tập hợp lại, xếp thành hàng trật tự và bắt đầu hành quân ăn những phần khác của cây thông.

Những tập tính "quái gở đến đáng sợ" của côn trùng 2 

Cuộc hành quân bắt đầu từ chính cây thông mà chúng sinh ra, sau khi đã “hạ gục nhanh, tiêu diệt gọn” cây mẹ, đàn sâu bướm di chuyển xuống mặt đất và tiến tới “nạn nhân” tiếp theo. Khi đêm xuống, chúng sẽ trở về kén trên ngọn cây để ngủ và bắt đầu cuộc hành trình mới khi bình minh lên.

2. Côn trùng có tính “troll”

Trong cuộc thám hiểm rừng nhiệt đới Suriname ở Nam Mĩ, các nhà sinh vật học đã phát hiện ra 60 loài sinh vật lạ chưa từng được biết tới. Một trong số đó là loài Nymth tí hon. Qua nghiên cứu, loài côn trùng độc đáo này sẽ hoàn toàn “lột xác” khi trưởng thành, sở hữu chiếc đầu lấp lánh cùng lớp lông trông giống nhúm tóc.

Những tập tính "quái gở đến đáng sợ" của côn trùng 3 

Chiếc đuôi mọc phía thân sau của Nymth dễ dàng đánh lừa các loài thú ăn thịt bằng cách khiến chúng nhầm lẫn giữa phần đầu và đuôi của nó. Giống đuôi của loài thằn lằn, đuôi của Nythm có thể rụng ra để giúp chúng thoát thân.

Bên cạnh đó, khi bị đe dọa, loài côn trùng này có thể nhảy lên cao gấp hàng trăm lần chiều cao của chúng còn phần lông đuôi sẽ hoạt động như một chiếc dù lượn giúp chúng bay xa hơn.

3. Kiến đặt bẫy con mồi

Allomerus decemarticulatus là loài kiến sống ở vùng rừng rậm Amazon. Không như những loài kiến khác chỉ đi tìm và ăn những thứ gì chúng vô tình kiếm được, Allomerus dựng lên một chiếc bẫy chết người để thu hút con mồi.

Những tập tính "quái gở đến đáng sợ" của côn trùng 4 

Allomerus đặt bẫy trên thân và lá cây, khéo léo ngụy trang cửa bẫy bằng sợi thiên nhiên tận dụng từ chính chiếc cây và bắt đầu mai phục cùng 40 đồng đội khác.

Những tập tính "quái gở đến đáng sợ" của côn trùng 5 

Khi có loài côn trùng sa chân vào cửa bẫy, Allomerus sẽ xông ra và chộp lấy một chân của nó. Sau đó, chúng gửi tín hiệu pheromone tới đồng loại và tất cả đồng loạt lao tới, túm nốt những chân còn lại của nạn nhân xấu số và ra sức kéo, tạo nên cảnh tượng phanh thây đáng sợ.

4. Trang trại nấm của loài kiến

Kiến cắt lá nổi tiếng với khả năng cắt rời lá và khuân về tổ. Tuy nhiên, lá sẽ được chúng sử dụng làm phân bón chứ không phải là thức ăn như nhiều người nhầm tưởng.

Những tập tính "quái gở đến đáng sợ" của côn trùng 6 

Kiến cắt lá tập trung tại phần đất mỏng nhất để kích thích sinh trưởng. Chúng nhai những cây nấm mọc yếu hơn rồi giữ lại enzyme tiết ra từ nấm. Tiếp theo, chúng thải các enzyme chưa được xử lý vào đất để bắt đầu quá trình phân hủy của lá, đồng thời cung cấp dưỡng chất cho nấm.

Những tập tính "quái gở đến đáng sợ" của côn trùng 7 

Tuy nhiên, phần kỳ lạ nhất chính là một số kiến cắt lá được giao nhiệm vụ đi liếm tất cả các cây nấm. Bằng cách này, chúng tiết ra vi khuẩn giết chết cây nấm có thể gây hại cho sự sinh trưởng của những cây khác.

5. Kiến biết tính toán đường đi

Khi phát hiện ra một nguồn thức ăn mới, kiến sẽ thiết lập một lộ trình vận chuyển tốn ít thời gian nhất. Nhưng đặc biệt hơn, tuyến đường của chúng chạy quanh co qua nhiều loại địa hình nhằm tạo nên một lộ trình khoa học nhất.

Những tập tính "quái gở đến đáng sợ" của côn trùng 8 

Nếu gặp một địa hình nào đó khiến loài kiến khó di chuyển (bùn, cát), chúng sẽ men theo mép của địa hình đó để bò trên con đường bằng phẳng dù cho nó dài hơn. Tuy nhiên, kiến cũng không ngần ngại trượt trên những địa hình khó khăn nếu phương pháp trên khiến chúng tốn quá nhiều thời gian.

Những tập tính "quái gở đến đáng sợ" của côn trùng 9 

Mỗi khi một con kiến mang thức ăn về tổ, chúng để lại một vệt chất pheromone. Nếu có quá nhiều tuyến pheromone, con đến sau sẽ chọn tuyến ngắn nhất và củng cố thêm bằng chính pheromone của nó. Nhờ vậy, tất cả các lộ trình sẽ được được quy về một mối hiệu quả nhất.

6. Kiến ăn “smartphone”

Xuất hiện ở phía Nam nước Mỹ, loài “kiến điên” (Raspberry) với kích thước siêu nhỏ chỉ khoảng 3mm cùng khả năng sinh tồn rất cao có thể chống được cả các loại thuốc trừ sâu đã “làm mưa làm gió” một vùng rộng lớn.

Những tập tính "quái gở đến đáng sợ" của côn trùng 10 

Chúng là loài sinh vật ám ảnh những người yêu công nghệ bởi đặc điểm thích ăn các thiết bị điện tử. Với kích thước nhỏ, “kiến điên” dễ dàng chui vào những thiết bị điện tử như TV, loa, quạt hay thậm chí là điện thoại và gặm nhấm mọi thứ.

Những tập tính "quái gở đến đáng sợ" của côn trùng 11 

Hơn thế, loài kiến này còn có tập tính bầy đàn và hung hãn. Chúng sẵn sàng đánh chiếm nguồn thức ăn, tiêu diệt những con còn sót lại và chiếm luôn tổ của các loài kiến khác.

7. Di chuyển tìm mồi để tránh bị ăn thịt

Mỗi đàn châu chấu bao gồm hàng triệu cá thể và cùng di cư để tìm kiếm protein. Tuy nhiên, động lực khiến chúng di chuyển không ngừng nghỉ lại hết sức kỳ lạ. Với số lượng châu chấu đông đảo như vậy, chỉ có con đi đầu mới có thể tiếp cận thức ăn và kết quả là những con tới sau bị mất phần.

Những tập tính "quái gở đến đáng sợ" của côn trùng 12 

Tức giận vì đói, những nhân vật “chậm chân” sẽ quay ra tấn công nguồn protein gần nhất – con châu chấu đi đầu xấu số. Bởi thế, ngay cả khi đã no bụng, những con dế Mormon đi đầu vẫn di chuyển liên tục để kiếm mồi vì chỉ cần dừng lại, chúng sẽ bị xơi tái bởi đồng loại háu đói đằng sau.

[Life] 5 điệp vụ kỳ cục nhất của CIA

Đến Stierlitz (nhân vật chính của tiểu thuyết và bộ phim trinh thám lừng danh “Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân” của Liên Xô) cũng không mơ thấy những điệp vụ rồ rại như của CIA

5 điệp vụ kỳ cục nhất của CIA 

Và dưới đây là 5 điệp vụ kỳ cục nhất.

1. Điệp vụ “Bán dạ cực khoái” 

Trong khuôn khổ điệp vụ “Bán dạ cực khoái” (Operation Midnight Climax) này, tại các nhà mật của CIA ở California và New York, đã tiến hành các thí nghiệm quan sát tác động của chất ma túy LSD đối với những người không hề nghi ngờ gì (trong các tài liệu, CIA gọi họ là các “khách hàng”) bị các gái điếm dụ đến đó. Các “khách hàng” bị pha vào đồ uống không chỉ LSD, mà đôi khi là cả “huyết thanh khai khẩu” và các chất hướng thần khác.

5 điệp vụ kỳ cục nhất của CIA 

Các điệp viên CIA cẩn thận ghi nhận tác động của các chế phẩm bằng cách quan sát người bị thí nghiệm từ căn phòng bên qua kính quan sát một chiều.

2. Điệp vụ The Stargate Project

Vai trò chính trong điệp vụ này được dành cho tín đồ của giáo phái Scientology vốn phổ biến ở Mỹ và các nhà cận tâm lý học. Các chuyên gia đặc biệt này có nhiệm vụ kiểm tra trên thực tế giả thiết, theo đó, người ta có thể khai thác được thông tin tình báo mật về đối phương nhờ các năng lực dị thường mà không cần phải ra khỏi phòng thí nghiệm trên lãnh thổ Mỹ.

5 điệp vụ kỳ cục nhất của CIA  

Người ta cũng đã kiểm tra khả năng tác động phi tiếp xúc, từ xa về thể chất đối với các chỉ huy quân địch nhằm tiêu diệt họ. Dự án được tiến hành trong 25 năm trời và bị đình chỉ vào năm 1995.

3. Điệp vụ Mongoose

Tháng 11/1961, Tổng thống Mỹ John Kennedy đã chính thức cho phép tiến hành điệp vụ Mongoose với mục đích chính là lật đổ chính phủ cộng sản ở Cuba do Fidel Castro đứng đầu. Đây là một điệp vụ tổng hợp, bao gồm cả tuyên truyền lật đổ, các phương thức tâm lý chiến và phá hoại trực tiếp.

5 điệp vụ kỳ cục nhất của CIA

Cụ thể, CIA đã xem xét các phương án như tấn công khiêu khích nhằm vào các phần tử Cuba lưu vong để buộc họ có phản ứng đáp trả, cung cấp vũ khí cho các nhóm vũ trang đối lập, thậm chí các biện pháp nhằm phá hoại thu hoạch mía đường ở Cuba. CIA cũng không bỏ qua bản thân lãnh tụ Fidel Castro. Họ đã âm mưu sát hại ông bằng những điều xì gà tẩm độc và những cây bút chứa chất độc, những quả bom ngụy trang thành những vỏ ốc biển mà lãnh tụ Cuba thích thu thập trong các lần lặn bằng đồ lặn. Câu chuyện thậm chí đi đến mức hài hước như CIA đã soạn thảo một kế hoạch mặt nhằm phun lên quần áo của ông và các căn phòng mà Fidel thường có mặt các hóa chất làm rụng bộ râu lừng danh thế giới của Fidel. Điệp vụ đã bị đình chỉ sau khi cuộc khủng hoảng Caribe kết thúc.

4. Điệp vụ MKULTRA

Điệp vụ này được Giám đốc CIA Allen Dulles thông qua vào tháng 4/1953. CIA có ý định thử nghiệm và phát triển các phương tiện hóa học, sinh học và phóng xạ dùng để kiểm soát hành vi con người. Nó bao gồm chất phóng xạ, sốc điện, các phương pháp tâm lý, thần kinh, xã hội học, nhân chủng học, thuật xem tướng chữ, các chất kích thích và thiết bị bán quân sự. Nhiệm vụ của dự án là phát triển một chế phẩm có thể gây ảnh hưởng không chỉ đối với hành vi mà cả quan điểm của con người.

5 điệp vụ kỳ cục nhất của CIA 

Tóm lại, câu hỏi được đặt ra là: liệu CIA nhờ các chế phẩm có thể tạo ra các gián điệp không. Để làm việc đó, người ta đã nghiên cứu các loại chất độc của rắn, côn trùng, các loài nhuyễn thể, nấm, các loại virus và vi trùng gây bệnh đậu mùa, bệnh dịch tả, bệnh than và các bệnh tật khác, các chế phẩm hóa học tổng hợp. Điệp vụ bị đóng lại vào cuối thập niên 1960, nhưng đến nay vẫn chưa được giải mật.

5. Chiến dịch Vịnh Con lợn

Là chiến dịch quân sự do các điệp viên CIA chuẩn bị nhằm lật đổ chế độ Fidel Castro ở Cuba. Những kẻ thực hiện là người lưu vong Cuba. Chiến dịch mở màn ngày 15/4/1961 bằng việc các máy bay Mỹ cải trang thành máy bay ném bom của Không quân Cuba oanh kích các sân bay quân sự của Cuba. Tuy nhiên, CIA đã không thể tiêu diệt không quân của Hòn đảo Tự do. Các máy bay Cuba còn nguyên vẹn đã đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng trước 1.300 tay súng chống Fidel đổ bộ lên Vịnh Con lợn, Cuba hai ngày sau: chúng đã nhấn chìm 4 tàu đổ bộ, bắn hạ mấy mấy bay Mỹ, thực hành yểm trợ cho tác chiến từ trên không.

5 điệp vụ kỳ cục nhất của CIA 

Do hỏa lực mãnh liệt của máy bay, xe tăng và pháo binh quân đội Cuba, các tay súng đánh thuê đã đầu hàng sau khi chịu tổn thất hàng trăm tên bị chết. Sau đó, số hàng binh này đã được chính phủ Mỹ chuộc lại bằng 62 triệu USD.

[Life] Google đã phải thay đổi toàn bộ dự án Android vì sự ra đời của iPhone

iPhone_Google_G1. ​
Kể từ khi Google mua lại Android từ những năm 2005, hãng đã bắt đầu dồn công sức và tiền bạc để phát triển một hệ điều hành có thể làm cả thế giới kinh ngạc. Thế rồi đến năm 2007, iPhone xuất hiện và đảo lộn mọi thứ. Google buộc phải thay đổi toàn bộ dự án của minh nếu muốn cạnh tranh được với một loại smartphone rất mới lạ đến từ Apple. Câu chuyện bên dưới được trích từ quyển sách nói đến cuộc chiến giữa Google với Apple* của tác giả Fred Vogelstein. Nó sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu hơn về quá trình Google phải thay đổi Android và có đề cập đến cả mối nguy hiểm đến từ Microsoft.

Ghi chú:

Dự án Android và ngày iPhone ra đời

Năm 2005, tại trụ sở của Google, trong tòa nhà số 44, một nhóm khoảng 48 kĩ sư đang làm việc ngày đêm trong một dự án tuyệt mật của công ty thời bấy giờ: Android. Họ tưởng rằng mình vẫn đi đúng đường trong việc ra mắt một hệ điều hành có khả năng thay đổi ngành công nghiệp di động một lần và mãi mãi. Đến tháng 1/2007, mỗi vị kĩ sư đều làm việc từ 60 đến 80 tiếng mỗi tuần trong liên tục 15 tháng, có vài người thì đã theo dự án được 2 năm rồi. Họ viết các dòng mã, sau đó thử nghiệm chúng, rồi lại đi thương thuyết các vấn đề bản quyền phần mềm…

Chưa hết, một số người thì bay đến nhiều nơi trên thế giới để tìm kiếm các linh kiện, nhà cung cấp và nhà sản xuất phù hợp. Cả nhóm đã ăn ngủ cùng với một nguyên mẫu điện thoại Android trong vòng 6 tháng và dự kiến thiết bị này sẽ được ra mắt vào cuối năm… Thế nhưng, mọi chuyện thay đổi hoàn toàn khiSteve Jobs lên sân khấu và giới thiệu chiếc iPhone mới.

Chris DeSalvo, một kĩ sư của Google lúc bấy giờ, đã phản ứng trước iPhone một cách nhanh chóng và quyết liệt. “Là một người tiêu dùng, tôi cảm giác như bị thổi bay đi. Tôi muốn có một cái (iPhone) ngay lập tức. Còn với vai trò là một kĩ sư Google, tôi nghĩ ‘chúng ta sẽ phải bắt đầu lại từ đầu'”.

Steve_JObs_Apple_iPhone.

Đối với hầu hết mọi người ở Thung lũng Silicon, kể cả Google, thì sự kiện ra mắt iPhone ngày 9/1/2007 là một thứ rất đáng để ăn mừng. Jobs đã một lần nữa làm được thứ tưởng chừng như không thể. 4 năm trước đó ông đã làm mới hoàn toàn nên công nghệ nhạc số với những bài hát chỉ 99 cent trên iTunes. Giờ đây ông đã thuyết phục được các nhà mạng để Apple tự xây dựng nên một chiếc smartphone mang tính cách mạng. Còn với nhóm Android của Google, iPhone là một cú đấm thật mạnh vào bụng của họ. “Bỗng nhiên chúng tôi trông như những ông bà già 90 tuổi”, DeSalvo nói. “Chỉ đơn giản là mọi thứ rõ ràng như thế”.

Rắc rối của Google và nền công nghiệp di động thời bấy giờ

Nền công nghiệp di động hồi năm 2005 là một ví dụ hoàn hảo cho vấn đề rối rắm của Google. Mảng phần mềm dành cho điện thoại là một trong những thứ không bình thường nhất trong thế giới công nghệ. Băng thông mạng di động không đủ để người dùng lướt web một cách thoải mái, điện thoại thì không đủ mạnh để chạy bất kì thứ gì trừ những ứng dụng cơ bản.

Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất, cũng là thứ mà Steve Jobs đã nhận ra, đó là tình trạng cận độc quyền: chỉ có một vài hãng lớn cùng với các nhà mạng và các công ty sản xuất thiết bị ngồi viết phần mềm cho thiết bị di động. Và hầu hết những phần mềm đó đều quá tệ hại. Băng thông có thể được tăng lên, chip có thể mạnh hơn, nhưng nếu không phần mềm thì tất cả mọi thứ đều chỉ là một mớ hỗn độn. Vào thời điểm đó, cứ như là các nhà mạng và các công ty điện thoại kiểm soát mọi thứ vậy.

Một trong những quan chức Google cấp cao, người muốn được giấu tên, chia sẻ rằng “chúng tôi đã kí được hợp đồng với Vodafone (nhà mạng lớn nhất Châu Âu) để đưa bộ máy tìm kiếm của Google lên điện thoại của họ. Thế nhưng họ lại muốn kiểm soát hết những kết quả tìm kiếm, và kết quả trả về từ Google sẽ nằm ở dưới cùng. Họ cũng không có một trình duyệt tốt. Nhạc chuông (do Vodafone bán) đôi khi lại nằm ở top đầu những thứ mà người dùng thấy. Tất cả mọi nhà mạng đều làm như thế này. Họ tưởng rằng họ có thể cung cấp tất cả mọi dịch vụ trong một khu vườn đóng kín cửa (như những gì AOL từng làm những năm 90). Họ nghĩ rằng việc kiểm soát như thế là cách tốt nhất để họ kiếm tiền”.

Lý do mà chỉ một ít nhà phát triển chịu xây dựng phần mềm cho thiết bị di động đó là cứ mỗi lần họ cố gắng viết thì lại bị mất tiền. Lúc đó không có một tiêu chuẩn nào trong ngành cả. Rõ ràng rằng mỗi điện thoại chạy phần mềm riêng của mình, có các bộ ứng dụng của riêng mình. Điều này có nghĩa là một ứng dụng viết cho điện thoại Samsung sẽ không thể chạy trên điện thoại của Motorola, cũng chẳng thể dùng với một chiếc Nokia. Ngay cả trong nội bộ một công ty thì nền tảng phần mềm cũng chẳng hề tương thích nhau. Ví dụ: có cả tá phiên bản Symbian, và những app cũ có thể không còn hoạt động tốt trên phiên bản Symbian mới.

Nói đơn giản thì cả ngành công nghiệp di động không phải là chỗ lý tưởng để các công ty phần mềm nhảy vào, thay vào đó, hầu hết mọi người đều chọn cách tránh xa. Có một thứ khác có thể kiếm ra tiền, đó là vận hành một công ty chuyên đi thử nghiệm và đảm bảo rằng ứng dụng viết ra có thể chạy được trên tất cả được thoại xuất hiện trên thị trường.

Bản thân CEO Larry Page cũng nhiều lần không ngần ngại mô tả về giai đoạn hỗn loạn đó và những khó khăn mà nó đã gây ra cho bản thân ông cũng như cho cả Google. Năm 2012, trong một cuộc nói chuyện với cổ đông, Page chia sẽ rằng “chúng tôi có một cái tủ với hơn 100 điện thoại (dùng cho việc phát triển phần mềm), và chúng tôi xây dựng phần mềm cho từng chiếc điện thoại một”. Ông sử dụng những từ như “tồi tệ”, “cực kì đau khổ” để mô tả về quá trình xây dựng và thử nghiệm app cho điện thoại lúc bấy giờ.

Mối lo lắng về Microsoft

Tuy nhiên, Page và những quan chức Google khác biết rằng không sớm thì muộn sẽ có người tìm ra cách giải quyết vấn đề nói trên, và họ cực kì lo ngại rằng người đó sẽ là Microsoft (lúc đó Apple không phải là mối lo ngại của Google vì những động thái của Apple trong thị trường mobile không rõ ràng). Vào năm 2005, Microsoft vẫn là công ty công nghệ giàu nhất và có nhiều quyền lực nhất trên thế giới, hãng cũng có phát triển Windows CE để dành cho các thiết bị nhúng. Thiết bị chạy Windows CE chỉ là một thị trường nhỏ, tuy nhiên nếu người tiêu dùng có thể xài nền tảng này một cách rộng rãi hơn thì toàn bộ những gì Google đang làm sẽ lâm vào tình trạng nguy hiểm.

Đây thật sự không phải là một chuyện phóng đại. Microsoft và Google đã từng ở trong một cuộc chiến về bộ máy tìm kiếm cũng như về nguồn nhân lực. Trong suốt hai thập kỉ trước, Microsoft là lựa chọn hàng đầu của các kĩ sư IT, còn bây giờ thì là Google. Chủ tịch Bill Gates và CEO Steve Ballmer cũng từng làm rõ ràng họ muốn đối đầu với Google một cách quyết liệt nhất. Bằng chứng là đến bây giờ thì hai hãng vẫn còn châm chọc nhau đấy thôi. Bill Gates thậm chí còn chế giễu về cách ăn mặc của Page và đồng sáng lập Sergey Brin nữa.

Các quan chức Google đã bị thuyết phục rằng nếu như Windows trên di động bắt kịp dòng chảy thị trường thì Microsoft sẽ can thiệp vào việc truy cập Google của người dùng trên những thiết bị này, đồng thời ưu tiên hơn cho bộ máy tìm kiếm của chính Microsoft. Cũng còn may mắn là vụ kiện độc quyền của chính phủ Mỹ với Microsoft trong những năm 1990 đã khiến hãng không thể tiến hành làm điều đó một cách dễ dàng.

Tuy nhiên, trên smartphone thì luật lệ chưa được chặt chẽ như máy tính. Không có tình trạng một công ty phần mềm chiếm lĩnh toàn bộ thị trường. Google lo rằng nếu Microsoft khiến việc truy cập Google từ Windows CE khó khăn hơn, trong khi việc sử dụng bộ máy tìm kiếm của chính Microsoft dễ dàng hơn thì nhiều khách hàng sẽ chuyển sang dùng sản phẩm do Microsoft xây dựng. Đây cũng là cách Microsoft giết chết trình duyệt Netscape bằng Internet Explorer trong những năm 1990. Nếu người dùng bị chặn không thể xài Google và bắt đầu xài bộ máy tìm kiếm đối thủ thì Google sẽ nhanh chóng thất bại. Chủ tịch Eric Schmidt từng thừa nhận rằng Google “rất lo sợ rằng chiến lược di động của Microsoft sẽ thành công” trong một phiên toà hồi năm ngoái.

Sự thay đổi về thiết bị của nhóm Android

Quay trở lại với Apple, vào ngày Jobs giới thiệu iPhone, Andy Rubin, giám đốc bộ phận Android, đang đi công tác ở Las Vegas chứ không còn ở California. Ông đang trên đường đi gặp một số nhà sản xuất thiết bị và nhà mạng tại triển lãm CES. Phản ứng của Rubin trước tin tức về iPhone cũng y như DeSalvo. Rubin lo lắng về những thứ mà Jobs đang giới thiệu tới nỗi phải dừng xe để xem cho hết buổi ra mắt. Một trong những đồng nghiệp của ông kể lại rằng Rubin đã thốt lên: “Chết rồi! Tôi đoán chúng ta sẽ thể không bán ra cái điện thoại đó (nguyên mẫu mà Google đang phát triển).”

Thứ mà nhóm Android đang làm việc là một chiếc điện thoại với tên mã Sooner. Hệ điều hành của thiết bị này có một trình duyệt Internet đầy đủ, chạy những ứng dụng nền web tuyệt vời của Google (bao gồm Google Search, Maps, YouTube). Ngoài ra, phần mềm này được thiết kế để không chỉ chạy trên Sooner mà còn trên bất kì smartphone, tablet và cả những thiết bị di động mà người ta chưa từng tưởng tượng ra. Máy sẽ không bao giờ cần phải kết nối với laptop hay desktop. Nó cũng cho phép nhiều ứng dụng chạy cùng lúc, đồng thời hỗ trợ truy cập dễ dàng đến các dịch vụ, cửa hàng mà Google cung cấp. Trong khi đó, iPhone cần phải nối với máy tính để chạy iTunes, không thể chạy được hơn 1 app ở một thời điểm, và lúc đầu Apple chẳng hề có kế hoạch gì trong việc mang đến một kho phần mềm cho iPhone.

Google_Sooner_phone_Android.

Tuy nhiên, bản thân chiếc điện thoại Sooner thì trông quá “ngớ ngẩn”. Nó trông tương tự một chiếc BlackBerry, với bàn phím kiểu truyền thống và một màn hình không hỗ trợ cảm ứng. Rubin và nhóm của mình, cùng với đối tác là HTC và T-Mobile, tin rằng người dùng quan tâm nhiều hơn đến phần mềm tốt chứ không quá đề cao ngoại hình. Thực ra thì đây cũng là một thứ phổ biến thời bấy giờ. Ngoài ra, BlackBerry với dòng sản phẩm của mình cũng là minh chứng tốt để Google theo đuổi: hãng bán ra những mẫu smartphone với bàn phím tuyệt vời, hỗ trợ phần mềm và email tốt, tất cả gói gọn trong một thân hình bền bỉ.

iPhone thì ngược lại, nó không chỉ nhìn đẹp và còn sử dụng cái đẹp đó để tạo ra một cách tương tác giữa người dùng với điện thoại hoàn toàn mới. Đó là những cách mà kĩ sư Google nghĩ rằng không thểnào xảy ra hoặc có quá nhiều rủi ro. Bằng cách sử dụng bàn phím ảo và thay thế hầu hết nút cứng với màn hình cảm ứng lớn, mọi ứng dụng giờ đây sẽ có một cách điều khiển riêng của mình. Những nút Play, Pause, Stop chỉ xuất hiện khi bạn phát nội dung. Khi nhấp vào thanh địa chỉ trình duyệt thì bàn phím sẽ lộ diện, còn khi nhấn Enter thì tự ẩn đi. Việc không có một bàn phím cứng to đùng giúp iPhone sở hữu kích thước màn hình to gấp đôi so với những điện thoại khác trên thị trường. Chưa dừng lại ở đó, iPhone vẫn hoạt động như nhau không kể người dùng đang cầm máy ngang hay dọc. Apple đã gắn một cái gia tốc kế để nói cho điện thoại biết hướng xoay của máy.

Chiếc iPhone đời đầu cũng gặp nhiều lời than phiền. Rubin và nhóm Android không nghĩ rằng người dùng có thể gõ được trên một màn hình cảm ứng mà không có phản hồi xúc giá gì lại như bàn phím cứng thông thường. Đó cũng là lý do mà chiếc điện thoại Android đầu tiên, T-Mobile G1 do HTC sản xuất và ra đời 2 năm sau, có bàn phím dạng vật lý QWERTY dạng trượt. Tuy nhiên, nhóm Android trước đó đã đánh giá thấp Apple, rằng họ không nghĩ là người ta chỉ cần dùng ngón tay cũng có thể điều khiển điện thoại chứ chẳng cần đến nút riêng hay stylus gì cả. Ethan Beard, một trong những người điều hành mảng Android trong những ngày đầu, nhận xét rằng “chúng tôi biết Apple sẽ giới thiệu một chiếc điện thoại. Ai cũng biết điều đó. Có điều chúng ta chỉ không nghĩ rằng nó lại tốt đến như vậy”.

t-mobile-g1-android-2.3. ​

Chỉ trong vòng vài tuần nhóm Android đã thay đổi tất cả mục tiêu của mình. Một chiếc điện thoại với màn hình cảm ứng mang tên Dream, vốn cũng đã xuất hiện trong quá trình phát triển trước đó, được toàn nhóm dồn sức phát triển. Nó trở thành trọng tâm cho toàn bộ dự án. Kĩ sư của Google bắt đầu đào saa vào những thứ mà iPhone không thể làm được rồi mang nó lên sản phẩm của mình nhằm tạo ra sự khác biệt trong ngày ra mắt. Erick Tseng, quản lý dự án, nhớ rằng đột nhiên mọi người đều cảm thấy lo lắng cho khi ngày giới thiệu càng lúc càng gần.

“Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng chúng tôi phải bỏ hết tất cả những gì mình đang làm. Rằng iPhone ra đời có nghĩa là game over. Tuy nhiên, một giới hạn đã được đặt ra, và bất kì thứ gì chúng tôi dự tính giới thiệu thì nó cũng phải đáp ứng được điều đó”.