[Discovery] Những thành phố trí tuệ cao nhất trên thế giới

Thành phố thông minh được đánh giá dựa trên 6 thể loại chính mà thành phố đạt được, bao gồm có nền kinh tế thông minh, hành xử môi trường thông minh, quản trị thông minh, lối sống thông minh, giao thông thông minh và con người thông minh.

Các thành phố được nhóm trong bốn khu vực bao gồm Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Á Thái Bình Dương và Mỹ Latinh. Kết quả cho thấy châu Âu có nhiều thành phố thông minh nhất trên thế giới. Đây là khu vực có giao thông công cộng tốt hơn cả, có sự cam kết lớn trong sử dụng xe đạp và đi bộ, ngoài ra đây cũng là khu vực tập trung vào các chính sách phát triển bền vững và các-bon thấp.

Những thành phố trí tuệ cao nhất trên thế giới

Copenhagen là thành phố có hai năm liên tiếp đạt danh tiếng là thành phố xanh nhất thế giới. Thành phố cũng đã được chọn là Thủ đô xanh của châu Âu vào năm 2014. Copenhagen có chỉ số carbon bình quân đầu người thấp nhất thế giới và cũng có kế hoạch giảm carbon tham vọng nhất của bất kỳ thành phố nào trên thế giới nhằm đạt được mục tiêu các bon trung tính vào năm 2025.

Thành phố trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương đang trên con đường để trở thành thành phố thông minh. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương có nhiều thách thức nhưng đồng thời cũng có nhiều cơ hội. Ví dụ, các thành phố của Trung Quốc đang phát triển với một tốc độ chưa từng có, đặt áp lực lên cơ sở hạ tầng và tạo ra sự tắc nghẽn giao thông cũng như thách thức lớn cho ô nhiễm không khí.

Úc và New Zealand là những quốc gia có những thành phố có chất lượng cuộc sống rất cao nhưng nói chung lại chưa phải là nhất về hiệu quả giao thông công cộng và các thành phố trong 2 quốc gia này thường sếp hàng sau so với nhiều thành phố khác ở Bắc Mỹ.

Sau đây là 10 thành phố thông minh nhất khu vực Châu Á/Thái Bình Dương:

1. Seoul

Seoul là thành phố thông minh nhất xét về mặt quản trị kỹ thuật số và dữ liệu công cộng. Hiện nay, thành phố có hơn 1.200 bộ dữ liệu mở cho công chúng và rất sáng tạo trong việc sử dụng các công cụ kỹ thuật số để hỗ trợ người dân tham gia, chẳng hạn như hệ thống OASIS trực tuyến cho phép công chúng đưa ra đề nghị lập về các kế hoạch trực tuyến.

Những thành phố trí tuệ cao nhất trên thế giới

Một mẫu “thành phố thông minh” đã được xây dựng bên cạnh sân bay Seoul. Đây là dự án thành phố có 40% không gian xanh, cung cấp dịch vụ phổ cập băng thông rộng lớn, tích hợp mạng cảm biến, loạt hệ thống công trình xanh chuẩn nhất và hệ thống ngầm sáng tạo vận chuyển chất thải nhà bếp từ các tòa nhà thẳng đến một cơ sở xử lý và chuyển đổi chất thải thành năng lượng.

2. Singapore

Những thành phố trí tuệ cao nhất trên thế giới

Singapore là thành phố có tổ chức quy mô công nghệ tiên tiến hạng nhất và sạch sẽ nhất thế giới với hệ thống giao thông công cộng tuyệt vời và có sự cam kết mạnh mẽ để phát triển bền vững. Thành phố là một trong thành phố có dấu chân carbon thấp nhất của bất kỳ thành phố khác trên thế giới, với khoảng 2,7 tấn carbon dioxide/đầu người.

3. Tokyo

Những thành phố trí tuệ cao nhất trên thế giới

Nhật Bản đã thành lập chiến lược cho năm 2020 bao gồm 8 mục tiêu cho tương lai. Trong đó bao gồm mục tiêu tăng khả năng phục hồi thảm họa thiên tai động đất, tạo ra năng lượng tái tạo tại địa phương, tạo 1.000 ha không gian xanh mới, khuyến khích chương trình có sự tham gia của người dân và hòa nhập xã hội, tạo việc làm mới cho người khuyết tật….

4. Hồng Kông

Những thành phố trí tuệ cao nhất trên thế giới

Hồng Kông là một trong những thành phố có mật độ dày đặc nhất trên thế giới, người dân Hồng Kông đã chấp nhận giải pháp giao thông công cộng là trên hết. Hồng Kông được xem là một trong những thành phố sáng tạo nhất trên thế giới. Ủy ban Đổi mới và Công nghệ Hồng Kông được thành lập vào năm 2000 để hỗ trợ việc tạo ra 5 cụm nghiên cứu tập trung vào ô tô, công nghệ thông tin, hậu cần, công nghệ nano và dệt may.

5. Auckland

Thông minh, công nghiệp, kinh doanh,năng lượng, xe điện, carbon

Auckland luôn luôn là một trong những thành phố đáng sống nhất trên thế giới và đây là nơi có hai phần ba trong số 200 công ty hàng đầu trong nước tập trung. Đầu năm nay, thành phố cam kết trở thành một trong 9 thành phố đầu tiên hợp tác với Microsoft trong việc ra mắt chương trình CityNext nhằm mục đích chuyển đổi thành phố và hỗ trợ đổi mới thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong các lĩnh vực như vận chuyển, sử dụng năng lượng và trong các công trình xây dựng các tòa nhà.

6. Sydney

Những thành phố trí tuệ cao nhất trên thế giới

Sydney sử dụng các nguồn lực và sự quan tâm của Thế vận hội Olympic như một cách để tạo ra thành phố xanh của mình. Làng Olympic Sydney là một dự án phát triển hỗn hợp kéo theo việc thực hiện các giải pháp năng lượng tái tạo như lắp đặt 12 tấm quang điện trên mọi gia đình, xây dựng hệ thống tái chế chất thải mà dẫn đến kết quả trong việc tái chế lên đến 90% và mạng lưới kết nối giao thông công cộng. Gần đây hơn, Sydney đã thử nghiệm một số dự án công nghệ sạch và thông minh.

7. Melbourne

Những thành phố trí tuệ cao nhất trên thế giới

Melbourne cũng đã có những tiến bộ vượt bậc để trở thành một thành phố bền vững và thông minh. Thành phố thiết lập mục tiêu đầy tham vọng là giảm 100 phần trăm lượng khí thải carbon dioxide từ mức năm 2006. Năm 2003, thành phố đã hoàn thành một trong những dự án năng lượng mặt trời đô thị lớn nhất và trong năm 2010, phát động “Chương trình 1200 Công trình” khuyến khích sự tham gia hơn nữa của các tòa lớn trong thành phố. Ngoài việc cắt giảm carbon, Melbourne hướng đến đầu tư khu vực tư nhân và tạo ra 8.000 việc làm xanh.

8. Osaka

Những thành phố trí tuệ cao nhất trên thế giới

Ngoài những cải tiến trong giao thông và thành phố sống tốt, Osaka đã thử nghiệm công nghệ nhà thông minh từ năm 2011. Phối hợp với các đối tác khác, dự án Smart Home của thành phố có sự kết hợp giữa các giải pháp năng lượng sạch và hệ thống quản lý năng lượng tại nhà (HEMS), kết quả là giảm 88% điện năng tiêu thụ so với nhà ở thông thường. Bước tiếp theo của thành phố là giải pháp tích hợp xe điện và chuyển đổi năng lượng mặt trời 100 phần trăm cho vấn đề sưởi ấm trong các tòa nhà.

9. Kobe

Những thành phố trí tuệ cao nhất trên thế giới

Kobe đã tiến hành thực hiện xây dựng thành phố xanh của mình thông qua hệ thống đánh giá toàn diện trong Chương trình Hiệu quả Môi trường Xây dựng (CASBEE). Kobe hiện đã chứng nhận 450 công trình xanh thông qua chương trình CASBEE. Trong thập kỷ qua, thành phố cũng đã tìm cách chuyển đổi phương thức quản lý nước và rác thải đô thị, thay đổi chiến lược của mình tái chế và tái sủ dụng chất thải và nước thải.

10. Perth

Thông minh, công nghiệp, kinh doanh,năng lượng, xe điện, carbon

Trong năm 2009, Perth bắt đầu một dự án 3 năm mang tên Thành phố Năng lượng Mặt trời Perth nhằm mục đích khuyến khích công nghiệp, kinh doanh và công chúng thay đổi cách thức sản xuất, sử dụng và tiết kiệm năng lượng. Dự án liên quan đến một loạt các công nghệ thông minh bao gồm việc lắp đặt hơn 9.000 công tơ thông minh, lắp đặt các panô năng lượng mặt trời cho 1.800 ngôi nhà, tư vấn hiệu quả năng lượng miễn phí cho hơn 3.500 hộ gia đình.

[Discovery] 10 phát minh giúp con người tránh khỏi thảm họa diệt vong

Đây không phải là lần đầu tiên điều này được khẳng định, nhưng loài người là những sinh vật tuyệt diệu. Chúng ta đã tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau trong suốt hàng triệu năm, và không chỉ là “tồn tại”, giờ đây chúng ta đã phủ kín hành tinh này với hơn 7 tỷ dân. Chúng ta đã làm được điều đó, bất chấp việc chúng ta chỉ là những sinh vật mỏng manh yếu ớt, không đủ to lớn để dễ dàng kiếm ăn, cũng không đủ nhỏ bé để dễ dàng lẩn trốn. Chúng ta không có lớp da dày đặc để tự bảo vệ mình khỏi những bất lợi của thiên nhiên, chúng ta sẽ nhanh chóng lìa đời nếu bị cắt nguồn cung cấp nước sạch và thực phẩm, chúng ta rất dễ dàng bị phơi nhiễm với các mầm bệnh.

10 phát minh giúp con người tránh khỏi thảm họa diệt vong (Phần I)

Điều gì đã khiến chúng ta đạt được vị trí như ngày hôm nay? Thời điểm chúng ta không phải dành mỗi phút giây trong cuộc sống lo nghĩ về việc liệu chúng ta có còn sống được đến ngày mai? Đó chính là bộ não, thứ giúp con người có khả năng trải nghiệm, tưởng tượng và nảy ra những cách thức giúp giải quyết những vấn đề mang tính chất sinh mệnh với cả một chủng tộc. Danh sách những phát minh này có lẽ sẽ kéo dài đến vô tận, nhưng hãy cùng điểm qua những thứ mà nếu không có chúng, hẳn giờ đây loài người đã có một tương lai hoàn toàn khác, u ám hơn rất nhiều.

Bánh xe

Câu thành ngữ “No need to reinvent the wheel” – không cần tái phát minh ra bánh xe mang hàm nghĩa rằng giải pháp luôn tồn tại song hành cùng với rắc rối, nhưng nó cũng đồng thời đề cập đến vai trò của bánh xe. Liệu loài người có còn tồn tại được đến hôm nay, nếu không có phát minh này?

Những nhà khảo cổ học, cho đến nay vẫn tranh cãi về thời điểm bánh xe lần đầu tiên được chế tạo ra. Bằng chứng sớm nhất cho thấy sự có mặt của bánh xe trong lịch sử nhân loại xuất hiện vào khoảng năm 3500 trước công nguyên tại vùng đồng bằng Lưỡng Hà, nhưng nó lại cho thấy, tại thời điểm này, bánh xe được dùng vào việc chế tác đồ gốm chứ không phải là một công cụ phục vụ cho việc di chuyển. Phải mất đến 300 năm sau, người Lưỡng Hà mới nhận ra rằng nó cũng có thể giúp họ đi lại, vận chuyển nhanh hơn và tốn ít công sức hơn.

10 phát minh giúp con người tránh khỏi thảm họa diệt vong (Phần I)

Bánh xe phát triển qua khá nhiều giai đoạn, khởi đầu bằng việc sử dụng những khúc gỗ mới đốn hạ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển, cho đến việc thay các trục lăn bằng các bánh xe quay xung quanh trục xe. Đến năm 2000 trước công nguyên, khi cỗ xe ngựa lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử (người Ai Cập cổ đại), chỉ đến khi đó bánh xe mới được tinh chỉnh để trở nên bền và nhẹ hơn thủy tổ của nó rất nhiều.

Vai trò của bánh xe vẫn nguyên vẹn cho đến ngày nay. Những thiết bị hiện đại vẫn tiếp tục sử dụng phát minh này, theo nhiều cách khác nhau: xe đạp, xe máy, ô tô, đồ chơi, máy quay phim, đồng hồ đeo tay và nhiều hơn thế nữa.

Lưỡi dao

Rõ ràng, bánh xe là một phần không thể thiếu trong lịch sử nhân loại, nhưng bạn không thể dùng nó đi săn lợn rừng cùng với những người cổ đại. Dùng bánh xe để đánh tay đôi với sư tử là chuyện quá sức khó khăn, còn dùng nó để tiếp tục lột da, moi tim, xẻ thịt có lẽ là chuyện bất khả thi.

10 phát minh giúp con người tránh khỏi thảm họa diệt vong (Phần I)

Đó là lý do tại sao họ phát minh ra lưỡi dao – cùng những biến thể của nó như kiếm, rìu, lưỡi hái…Một phát minh thực sự đột phá, giúp loài người tồn tại qua những thời điểm khắc nghiệt nhất. Rất nhiều thứ bạn có thể làm với một lưỡi dao: săn bắn, xẻ thịt, lột da giúp sưởi ấm, đốn hạ cây rừng, bảo vệ bản thân khỏi thú dữ, và tất nhiên, cả những đồng loại của mình.

Thậm chí ngay từ trước khi phát minh ra lưỡi dao, những người cổ đại đã sử dụng những viên đá sắc nhọn nhằm mục đích tương tự. Những bằng chứng khảo cổ học gần đây tại Ehiopia cho phép khẳng định rằng, loài người đã sử dụng chúng từ khoảng 3.4 triệu năm trước đây.

Quần áo

Trải qua quá trình tiến hóa, loài người đã dần mất đi bộ lông bảo vệ bên ngoài. Rõ ràng, làn da trần trụi có lẽ sẽ hợp thời trang hơn so với một cơ thể đầy lông lá, nhưng đó không phải là nguyên nhân chính. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, sự thay đổi này diễn ra vào khoảng 1 triệu năm trước, và đó là cơ chế giúp thải nhiệt tốt hơn.

Đi cùng với đó là sự đe dọa lớn hơn đến từ môi trường bên ngoài, và đây cũng chính là lý do chúng ta phát minh ra quần áo. Rất khó xác định chính xác thời điểm loài người bắt đầu phủ lên mình thứ gì đó. Da động vật không phải là một gợi ý hay, vì chúng rất dễ phân hủy.

10 phát minh giúp con người tránh khỏi thảm họa diệt vong (Phần I)

Nghiên cứu gần đây thuộc đại học Florida cho thấy, quần áo đã bắt đầu xuất hiện vào khoảng 83.000 đến 170.000 năm về trước – trùng với kỷ băng hà. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta đã hoàn toàn trần như nhộng trong vài chục, thậm chí vài trăm nghìn năm. Nhưng dù sao phát minh này cũng đã xuất hiện đúng lúc (hoặc đó chính là khả năng thích nghi tuyệt với của loài người). Không có thứ gì để sưởi ấm, hẳn toàn bộ loài người đã chết dưới cái lạnh của kỷ băng hà.

Nhà ở

Giờ đã có trong tay bánh xe, dao kiếm và quần áo, bạn sẽ làm gì với tất cả những thứ đó? Thực ra là bạn sẽ chết trước khi kịp làm bất cứ điều gì. Bạn cần thêm một (hoặc một vài) đột phá khác để sống sót tại thời điểm này.

Đó chính là một chỗ trú ẩn. Thực tế, đây hoàn toàn không phải là một thứ gì mới mẻ. Nó cũng chẳng phải phát minh của loài người – chúng ta cũng như bất cứ loài động vật nào khác, để tồn tại, chúng ta bắt buộc phải có một chỗ trú ẩn. Với người tiền sử, đây là những lựa chọn hàng đầu: làm tổ trên cây, hoặc chui rúc vào những hang động

10 phát minh giúp con người tránh khỏi thảm họa diệt vong (Phần I)

Cho đến khoảng 2.6 triệu năm trước, đã có những dấu vết cho thấy, loài người đã bắt đầu thu thập thức ăn và công cụ, tiến hành xây dựng nơi ẩn náu cạnh những nơi gần an toàn và gần nguồn nước. Khoảng 800.000 năm trước, chúng ta đã bắt đầu sử dụng lửa để dựng lên một “tổ ấm” đúng nghĩa. Nhưng bằng chứng xác thực về nơi trú ẩn thực sự được dựng lên bởi con người mới chỉ tồn tại cách đây khoảng 400.000 năm, chính xác là tại Terra Amata, Pháp. Bằng cách này, chúng ta đã có thể chống chọi với mọi mối đe dọa đến từ thú dữ và thời tiết ngày một trở nên khắc nghiệt.

Hệ thống xử lý chất thải

Phát minh này nằm gần thời kỳ của chúng ta hơn một chút so với những gì được đề cập ở đầu bài viết. Khi tờ tạp chí British Medical Journal đặt câu hỏi mở với một nhóm những chuyên gia và một số độc giả về việc, phát minh nào là vĩ đại nhất trong số những phát minh đã ra đời trong 150 năm qua, chính hệ thống xử lý rác thải đã vượt qua kháng sinh và kỹ thuật gây mê để vượt lên vị trí số 1.

10 phát minh giúp con người tránh khỏi thảm họa diệt vong (Phần I)

Việc cải tổ hệ thống xử lý chất thải diễn ra cách đây không lâu. Khi dòng sông Thames đã bị ních chặt phân, nước tiểu, và đường phố London ngập tràn những chất ô nhiễm chưa được xử lý, Edwin Chadwick, cựu luật sư và phóng viên đã quyết định xây dựng lên một hệ thống giúp giải quyết triệt để tình trạng trên. Phẩy khuẩn tả, rickettsia và cúm, những thứ bắt nguồn từ đống rác thải này cần phải được loại trừ triệt để.

Chadwick phác thảo ra một hệ thống lọc, xử lý các chất thải, cùng với các đường cống ngầm giúp chất thải được xử lý trước khi đổ ra ngoài. Cho đến tận ngày nay, hệ thống này vẫn chưa được áp dụng trên toàn cầu. Gần 1 tỷ người – 15% dân số thế giới vẫn dùng hệ thống cầu tiêu mở, và 2.4 tỷ người vẫn dùng các phương tiện vệ sinh chưa được cải tiến.

Thiết bị lọc nước

Theo những số liệu của tổ chức Y tế thế giới, cho đến năm 2005, nước ô nhiễm đã dẫn đến những nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới, với 3.4 triệu người mỗi năm, trên cả chiến tranh và khủng bố cộng lại. Trẻ em tại những quốc gia phát triển, với những hệ miễn dịch vốn đã bị suy yếu bởi chế độ dinh dưỡng nghèo nàn, nay còn bị đe dọa nhiều hơn bởi nguồn nước ô nhiễm chúng phải tiếp xúc mỗi ngày.

10 phát minh giúp con người tránh khỏi thảm họa diệt vong (Phần II)

Tuy nhiên, tình trạng này đã từng tồi tệ hơn rất nhiều. Trong nhiều thế kỷ, ngay cả ở những quốc gia phát triển, những nguồn nước chứa đầy phẩy khuẩn tả đã giết chết vô số sinh mạnh. Khi dịch tả bùng phát vào năm 1854 tại Anh, nhà khoa học John Snow lần đầu tiên đã phát hiện ra nguyên nhân, đó là một loài vi sinh vật trong nguồn nước bị ô nhiễm chất thải. Cũng chính ông là người có ý tưởng đưa chlorine vào nguồn nước để khử khuẩn, và kết quả hiển nhiên là dịch bệnh đã bị dập tắt. Từ đó đến nay, nhiều công nghệ lọc tiên tiến đã ra đời, giúp cho nguồn nước của chúng ta trở nên sạch hơn rất nhiều.

Lửa

Những bằng chứng khảo cổ học cho thấy, người châu Phi đã bắt đầu biết cách mồi, giữ và sử dụng lửa từ ít nhất cách đây 800.000 năm. Chính kỹ năng sử dụng lửa một cách thành thạo là một trong những yếu tố cơ bản và quan trọng nhất giúp loài người sống sót và phủ kín Trái đất như ngày nay.

10 phát minh giúp con người tránh khỏi thảm họa diệt vong (Phần II)

Một trong những ứng dụng không thể không nhắc đến – đó chính là sự ra đời của ngọn đuốc. Một ngọn đuốc có thể bảo vệ bạn khỏi sự đe dọa của thú dữ, nó cũng đồng thời là nguồn sưởi ấm giúp bạn tránh khỏi cái lạnh xuống dưới 0 độ. Thêm vào đó, lửa cũng là yếu tố chính giúp cho sự chế biến thịt và hoa quả sống, từ đó gia tăng sự đa dạng trong bữa ăn hàng ngày.

Cho đến tận ngày nay, khi chúng ta đã không còn phải tụ tập xung quanh một đám lửa và chia sẻ từng miếng thịt voi ma mút, lửa vẫn là thứ không thể thiếu. Một cách cụ thể hơn, cả thế giới có lẽ sẽ nhanh chóng sụp đổ nếu gas, xăng dầu hay bất cứ loại chất đốt nào khác đột nhiên biến mất khỏi mặt đất.

Hạt giống – trồng trọt

Nếu không có nguồn thực phẩm đến từ nông nghiệp, chúng ta sẽ phải dành phần lớn thời gian trong quãng đời ngắn ngủi của mình vào việc thu lượm, săn bắn – đó chính xác là những gì tổ tiên chúng ta vẫn làm hàng ngày để tồn tại. Thực ra, thu lượm và săn bắn cũng không có gì quá tồi tệ. Nó giới hạn con người trong việc sử dụng những nguồn tài nguyên sẵn có ở xung quanh, điều này hiển nhiên gây tổn hại ít hơn nhiều so với những gì chúng ta đã và đang làm với môi trường ngày nay.

10 phát minh giúp con người tránh khỏi thảm họa diệt vong (Phần II)

Nhưng điều này cũng đồng nghĩa với việc chúng ta phải liên tục đối mặt với nguy cơ chết đói. Đồng thời, nó giới hạn loài người trong việc tồn tại thành những nhóm nhỏ. Những thứ như kinh tế, chính trị, văn hóa trở nên quá xa vời. Đó là lý do tại sao việc gieo trồng lại có vai trò quan trọng đến vậy trong sự tồn tại của loài người.

Việc gieo trồng không chỉ là một, mà là một series của rất nhiều các đột phá khoa học và kỹ thuật. Nhưng tất cả những điều này chỉ bắt đầu vào khoảng vài nghìn năm trước, khi loài người bắt đầu học cách thu lượm hạt giống từ các loại cây hoang dã, chăm bón và thu hoạch chúng. Theo kết quả phân tích DNA của các thực phẩm hiện đại, sự gieo trồng có lẽ đã bắt đầu từ cách đây 9 đến 10 nghìn năm tại vùng tây nam châu Á.

Thuốc kháng sinh

Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, bất cứ ai cũng đã từng đối mặt với nguy cơ tử vong vì 1 trận dịch nào đó – đôi khi bùng phát trên quy mô vượt quá 1 châu lục. Chỉ riêng mình đại dịch Cái chết đen đã cướp đi sinh mạng của 200 triệu người vào thế kỷ 14.

10 phát minh giúp con người tránh khỏi thảm họa diệt vong (Phần II)

Chỉ đến đầu thế kỷ 20, phương thuốc chữa trị mới bắt đầu xuất hiện. Bác sỹ Alexander Fleming khi đang cố tìm ra một phương thức chống lại vi khuẩn, đã nhận ra một mẫu nấm có khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Fleming sau đó đã cho xuất bản một bài báo về phát hiện của mình vào năm 1929. Một trong những người học trò của ông, Bác sỹ Cecil Paine đã trở thành người đầu tiên giải trình rõ những tác dụng của Penicillin, một loại thuốc được chiết xuất từ nấm. Từ đó trở đi, việc sử dụng Penicillin và các kháng sinh liên tục được cải tiến đã làm giảm mạnh tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn. Giang mai, nhiễm khuẩn huyết và tất nhiên, đại dịch đen đã không còn là mối hiểm họa đẩy con người đến bờ vực diệt chủng nữa.

Phương pháp bảo quản thức ăn

Lọ dưa muối trong tủ bếp nhà bạn có vẻ như chỉ là một trò cười nếu so với các phát minh nói trên. Nhưng chính khả năng bảo quản thức ăn trong thời gian dài, trước khi tủ lạnh ra đời đã giúp loài người sống sót qua vô số những thảm họa tự nhiên và nhân tạo, khi nguồn thực phẩm đã bị cắt đứt.

10 phát minh giúp con người tránh khỏi thảm họa diệt vong (Phần II)

Hộp bảo quản ra đời vào khoảng cuối thế kỷ 18, khi đạo quân của Napoleon chịu tổn thất từ sự thiếu lương thực và dinh dưỡng hơn là đánh nhau với kẻ thù. Chính phủ Pháp đã treo giải thưởng 12.000 franc cho bất cứ ai có thể đưa ra giải pháp bảo quản đồ dự trữ của binh lính trên chiến trường. Một người lính có tên Nicholas Appert đã đề ra ý tưởng cho đồ đã nấu vào một lọ kín và nhúng ngập nước sôi để đưa hết không khí ra ngoài. Anh tin rằng chính không khí là thứ đã phá hỏng đồ ăn.

Phải hơn nửa thế kỷ sau, Louis Pasteur mới khám phá ra rằng, nhiệt độ thực ra đã giết chết các vi khuẩn và đây chính là nguyên nhân làm đồ ăn trở nên ôi thiu.

[Discovery] Những điều thú vị về chỉ số thông minh IQ

Chỉ số thông minh của cô bé Alexis Martin khiến nhiều người ngạc nhiên. Từ lúc hơn một tuổi, cô bé đã thuộc mọi câu chuyện mà bố mẹ kể lúc chuẩn bị ngủ. Hiện nay, cô bé có thể sử dụng thành thạo tiếng Tây Ban Nha nhờ tự học bằng máy tính bảng của bố mẹ. Trường hợp của bé Martin làm dấy lên nhiều câu hỏi về trí thông minh của con người và ảnh hưởng của nó tới tương lai của mỗi cá nhân.

Những điều thú vị về chỉ số thông minh IQ

Ý nghĩa của chỉ số IQ

Chỉ số thông minh (IQ) là cách các nhà tâm lý gọi khả năng tư duy và ghi nhớ của một người. Người ta có nhiều cách khác nhau để xác định chỉ số IQ dựa vào khả năng tiếp nhận, xử lý thông tin, hình ảnh của não bộ. Kết quả của các bài kiểm tra chính là chỉ số IQ.

Van Gemert, chuyên gia về tài năng trẻ người Mỹ, giải thích: “Những người có chỉ số IQ cao có thể tiếp nhận, xử lý thông tin ở mức độ sâu hơn và nhanh hơn so với người bình thường”. Chỉ số thông minh trung bình của chúng ta là 100. Những người như bé Martin chỉ chiếm 2% dân số thế giới.

Những điều thú vị về chỉ số thông minh IQ

Chỉ số thông minh không phải là tất cả

Tuy nhiên, ông Richard Nisbett, giáo sư tâm lý tại Đại học Michigan, cho biết, chỉ số IQ không quyết định thành công của mỗi người ngoài thực tế. Chỉ số này không thể đo độ sáng tạo và sự tò mò, những yếu tố đóng vai trò khá quan trọng trong quá trình tích lũy kiến thức của mỗi người.

Chỉ số IQ cũng không phải tiêu chuẩn mà giáo viên hoặc các bậc phụ huynh có thể dựa vào để biết được cảm xúc của một đứa trẻ. Chỉ số IQ cao giúp một đứa trẻ 5 tuổi có khả năng đọc và hiểu những vấn đề về kinh tế nhưng không ai dám chắc chúng biết rõ về chiến tranh hoặc án tử hình.

Theo chuyên gia về tài năng trẻ Van Gemert, chỉ số IQ là một trong những đặc điểm tạo nên con người. Nó giống như đôi mắt màu xanh, chiếc mũi lớn. Nó chỉ phần nào quyết định nên con người. “Nếu bạn không phát triển những phẩm chất tốt đẹp khác, bạn sẽ lãng phí trí thông minh của chính mình”, Gemert khẳng định.

Chỉ số thông minh thay đổi theo thời gian

Chỉ số thông minh của mỗi người có thể thay đổi theo thời gian. Rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng tới chỉ số thông minh. Đói nghèo, dinh dưỡng và căng thẳng có thể tác động rất nhiều tới trí thông minh của mỗi người. Nghiên cứu của giáo sư Nisbett chỉ ra rằng, trẻ em nhà nghèo có thể tăng 15 – 20 điểm chỉ số IQ nếu chúng sống trong một gia đình trung lưu.

“Chỉ số thông minh không bền vững như một số người vẫn tin. Nó chịu tác động rất mạnh từ yếu tố môi trường”, giáo sư Nisbett rút ra kết luận sau quá trình nghiên cứu kéo dài 4 năm trên 33 thanh, thiếu niên. Trong quãng thời gian này, chỉ số IQ có thể lên hoặc xuống tới 20 điểm.

Người ta dễ dàng nhận thấy một đứa trẻ thông minh xuất chúng nhưng không ai dám chắc nó vẫn vượt trội hơn hẳn bạn bè cùng trang lứa khi tới tuổi trung niên. Môi trường giáo dục, kinh nghiệm sống và điều kiện sống quyết định điều này.

Những điều thú vị về chỉ số thông minh IQ

Chúng ta thông minh hơn những thế hệ trước

Khi phương pháp kiểm tra chỉ số thông minh ra đời đầu những năm 1990, các nhà khoa học nhận thấy mức IQ trung bình tăng đáng kể qua các thế hệ. Theo đó, chỉ số IQ trung bình của những đứa trẻ 10 tuổi ngày nay sẽ cao hơn chỉ số trung bình của những đứa trẻ 10 tuổi năm 1954. Điều này không có nghĩa là não bộ của chúng ta lớn hơn não bộ những thế hệ trước. Nó chỉ cho thấy, chúng ta đã cải thiện khả năng tư duy và cách thức giải quyết các vấn đề.

Các nhà khoa học giải thích rằng, môi trường giáo dục và tính chất công việc thay đổi buộc chúng ta phải thường xuyên giải quyết những vấn đề phức tạp, đòi hỏi khả năng nhận thức. Ngoài ra, các yếu tố sức khỏe cũng đóng góp tích cực vào vấn đề này. Con người ít phải chống chọi với bệnh tật, tạo điều kiện để não bộ hoàn thiện hơn.

[Technology] Thiết bị đeo mắt cho phép bác sĩ phẫu thuật nhìn thấy tế bào ung thư

eyepiece. ​
Khi các bác sĩ đang thực hiện ca phẫu thuật trên bệnh nhân để loại bỏ một khối u ung thư, họ phải đối mặt với một thử thách lớn là làm sao phân tách các tế bào khỏe mạnh và tế bào ưng thư. Mới đây, một thiết bị không rõ tên đang được các nhà nghiên cứu tại trường y St. Louis thuộc đại học Washingtonhứa hẹn có thể mang lại một giải pháp an toàn và tiện lợi hơn nhằm giải quyết thách thức trên.

Thiết bị giống kính đeo mắt của đại học Washington cho phép bác sĩ phẩu thuật nhìn thấy các tế bào ung thư – phát sáng màu xanh. Các thử nghiệm đã cho thấy thiết bị có thể làm các khối u “hiện nguyên hình” dưới dạng các chấm xanh có đường kính từ 1 mm. Để khiến các tế bào phát màu xanh, indozyanine – một loại chất nhuộm được Cơ quan thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê chuẩn sử dụng đã được tiêm vào khối u.

Hệ thống gọn nhẹ này hoạt động bằng pin, kết nối không dây, có thể đeo được và quan trọng hơn cả là không làm vướn víu tay chân. Một thiết bị quan sát ban đêm đã được trang bị thêm vào hệ thống để mang lại khả năng quan sát các kích thích cận hồng ngoại và ánh sáng trắng cùng lúc. Dữ liệu quang học thu được từ các kích thích cận hồng ngoại phát huỳnh quang được hiển thị trực tiếp lên mắt kính với khả năng và hình ảnh có thể được khuếch đại tùy ý.

Trên kính đeo có tích hợp một bộ truyền dẫn hình ảnh tần số radio cho phép hệ thống truyền hình ảnh theo thời gian thực đến một khu vực bên ngoài nơi hình ảnh được người đeo nhìn thấy có thể được hiển thị sinh động trên màn hình. Điều này cho phép các chuyên gia bên ngoài quan sát những gì đang xảy ra trong quá trình phẩu thuật từ tầm nhìn của các bác sĩ đang trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật và cung cấp các phản hồi chuyên môn và hình ảnh phân tích. Qua đó, hệ thống có thể được áp dụng vào các hoạt động xét nghiệm tại chỗ, can thiệp y tế, xác định bệnh lý theo thời gian thực và thậm chí tư vấn y tế từ xa.

Thiết bị của đại học Washington có thể được xem là một bước cải tiến của các phương pháp ảnh hóa trong quá trình phẫu thuật. Các phương pháp này thường tốn kém, phức tạp, mất nhiều thời gian triển khai và ẩn chứa nhiều nguy cơ. Chẳng hạn như trong phương pháp xạ hình, việc sử dụng chất đánh dấu đồng vị phóng xạ có thể phát ra các bức xạ ion nguy hiểm đối với bệnh nhân và cả bác sĩ phẫu thuật. Ngoài ra, việc sử dụng thuốc nhộm xanh để quan sát các hạch bạch huyết bảo vệ (SLN) bằng mắt thường cũng có thể gây ra các phản ứng bất lợi.

Công nghệ kính đeo quan sát tế bào ung thư được phát triển bởi một nhóm nghiên cứu dẫn đầu bởi Samuel Achilefu – một giáo sư tiến sĩ kỹ thuật y sinh và X quang tại trường St. Louis thuộc đại học Washington. Vào đầu tháng 2, bác sĩ phẫu thuật ngực Julie Margenthaler đã thực hiện ca mổ đầu tiên áp dụng thiết bị trên.

Hiện tại, các bác sĩ phẫu thuật thường cắt bỏ khối u và các mô kế cận có thể không chứa tế bào ung thư. Một khi đã được phân tích và nếu các tế bào ung thư được tìm thấy trong mẫu xét nghiệm, bệnh nhân sẽ được yêu cầu thực hiện ca phẫu thuật thứ 2 để cắt bỏ các mô tiếp theo và quá trình này cứ lặp lại. Đối với các bệnh nhân ung thư vú, 20 đến 25% trong số họ phải tiếp tục cắt bỏ khối u trong lần phẫu thuật thứ 2.

[Discovery] Tế bào ung thư tự tiêu huỷ bởi nước cây sả tươi

Tế bào ung thư tự tiêu huỷ bởi nước cây sả tươi

Uống một lìều lượng nhỏ chừng 1g cây sả tươi, chứa đủ chất dầu làm cho tế bào ung thư tự hủy trong ống nghiệm.

Các nhà nghiên cứu người Do Thái đã tìm ra đường lối làm cho tế bào ung thư tự hủy diệt. Tại trường đại học Ben Gurion, Đầu tiên người ta thấy một nông dân tên là Benny Zabidov, người này đã trồng một loại cỏ trong trang trại Kfar Yedidya của mình thuộc vùng Sharon, ông này không hiểu sao có rất nhiều bệnh nhân ung thư, họ đến từ khắp nơi trong nước, tập trung trước cửa nhà Zabidov hỏi xin cây sả tươi. Thì ra các bác sĩ bảo họ đến. Họ được khuyên phải uống mỗi ngày 8 lần cây sả tươi trụng với nước sôi trong những ngày họ đến chữa bằng xạ trị và hoá trị.

Tất cả bắt nguồn từ các nhà nghiên cứu tại trường đại học Ben Gurion thuộc vùng Negev, năm ngoái họ đã khám phá ra dầu thơm trong cây sả đã diệt được tế bào ung thư trong ống nghiệm, trong khi tế bào lành vẫn sống bình thường. Dẫn đầu toán nghiên cứu là bác sĩ Rivka Okir và giáo sư Yakov Weinstein, giữ chức vụ của Albert Katz Chair, trong nghiên cứu sự khác biệt của tế bào và những bệnh ác tính.từ các phân khoa vi sinh học và miễn nhiễm tại BGU.

Chất dầu sả là chìa khóa cấu thành đã tạo mùi thơm chanh và mùi vị dược thảo như cây sả (Cymbopogon ctratus), melissa (melissa officinalis) and verbena (Verbena officinalis).

Theo Ofir, sự học hỏi tìm ra chất dầu sả gây cho tế bào ung thư tự huỷ gọi là chương trình gây sự tử vong của tế bào (programmed cell death). Uống một liều lượng nhỏ 1g cây sả có đủ chất dầu thúc đẩy tế bào ung thư tự hủy trong ống nghiệm! Các nhà thanh tra thuộc trường BGU thử lại sự ảnh hưởng của chất dầu sả trên tế bào ung thư bằng cách cho thêm tế bào lành, đã được nuôi cấy, vào. Số lượng cho vào bằng với số lượng trà cây sả với 1g đã được ngâm nước sôi. Nhận thấy trong khi chất dầu sả diệt tế bào ung thư thì tế bào lành vẫn sống bình thường.

Sự khám phá được đăng trên báo khoa học Planta Medica, được nhấn mạnh về các sự thí nghiệm các phương thuốc chữa trị bằng dược thảo.

Ngay sau đó, khám phá này đã được đưa lên phổ biến bằng các phương tiện truyền thông công chúng.

Tại sao dầu sả lại tác dụng như vậy? Không ai biết chắc chắn, nhưng các khoa học gia trường BGU đã đưa ra một lý thuyết: trong mỗi tế bào của cơ thể chúng ta có một chương trình di truyền, nó đã gây ra một “chương trình tế bào chết”. Khi có điều gì sai lạc, tế bào phân chia ra mà không kiểm soát được và trở thành tế bào ung thư.

Ở tế bào bình thường, khi tế bào khám phá ra hệ thống kiểm soát không điều hành đúng, thí dụ khi nó nhận thấy tế bào chứa đựng những di truyền sai lạc khi phân chia – nó sẽ kích hoạt cho tế bào chết đi, đó là sự giải thích của Weinstein. Sự nghiên cứu này đã cho thấy lợi ích của dược thảo trên về mặt y khoa.

Sự thành công của họ đã đưa tới kết luận về cây sả, có chứa chất dầu, được coi như có khả năng chống lại tế bào ung thư, như là họ đã từng nghiên cứu tại trường BGU và đã được phổ biến trên truyền thông, nhiều bác sĩ tại Do Thái đã bắt đầu tin tưởng những nghiên cứu có thể mở rộng hơn nữa, trong khi vẫn khuyến cáo những bệnh nhân, tìm đủ mọi cách để chống lại căn bệnh này, bằng cách dùng cây sả để tiêu diệt tế bào ung thư.

[Life] Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản?

Từ khi còn là một công ty khởi nghiệp tý hon, Google đã sử dụng hệ thống phân loại nội bộ đối với nhân viên có tên gọi Objectives and Key Results hay OKR (tạm dịch: Những mục tiêu và kết quả then chốt).

OKR là hệ thống đơn giản giúp một công ty tổ chức và thi hành những mục tiêu được đề ra.OKR bắt đầu từ những vị trí đứng đầu và di chuyển xuống chuỗi các vị trí lãnh đạo cấp thấp trong công ty. Google không phải là hãng phát minh ra hệ thống phân loại này. OKR bắt nguồn từ tập đoàn Intel. Và có nhiều công ty khác cũng sử dụng hệ thống quản lý tương tự.

Cách đây vài năm, một thành viên của Google Ventures là Rick Klau từng có bài giới thiệu về cách vận hành của OKR. Nếu bạn đang chuẩn bị cho một dự án khởi nghiệp và không sử dụng hệ thống tương tự như OKR thì bạn nên suy nghĩ lại. Hay nếu bạn làm việc cho một công ty lớn và công ty của bạn không sử dụng OKR thì đã đến lúc nên cân nhắc dùng tới nó. Thậm chí nếu sếp của bạn ghét áp dụng ý tưởng này thì bạn cũng nên áp dụng nó cho bản thân mình.

Dưới đây là nội dung được trang Business Insider trích từ bài thuyết trình của Klau, sẽ giúp bạn hình dung rõ ràng hơn về cơ chế hoạt động đơn giản nhưng hiệu quả của OKR.

Nhà đầu tư vào Google- John Doerr đã hăng hái xây dựng hệ thống quản lý nội bộ OKR ngay từ khi Google chập chững bước vào làng công nghệ. Đây là trang slide ví dụ về một OKR của John Doerr. Nó gồm một mục tiêu hàng đầu và 3 kết quả then chốt theo sau.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (1)

Đây là ví dụ về một OKR được áp dụng cho một đội bóng chày. Vị trí Tổng quản lý có 2 mục tiêu gồm: Chiến thắng giải Super Bowl và đảm bảo chắc chắn mọi người sẽ đến xem các trận bóng.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (2)

Người quản lý sẽ giao mỗi mục tiêu này cho huấn luyện viên trưởng và trưởng bộ phận PR. Bạn có thể thấy, họ sẽ có những kết quả quan trọng riêng để đạt được mục tiêu được giao.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (3)

Và sau đó, thấp hơn vị trí huấn luyện viên, thậm chí chúng ta có thể thấy những cấp độ sâu hơn của hệ thống OKR. Huấn luyện viên muốn những tiền vệ của mình hoàn thành mục tiêu thi đấu nhất định như 200 yards mỗi trận. Tiếp theo, các điều phối viên sẽ tiếp tục triển khai OKR để thực hiện mục tiêu trên.

Vậy tại sao nên sử dụng hệ thống quản lý này? Có 4 nguyên nhân được đưa ra gồm: Rèn luyện tính kỷ luật, truyền đạt mục tiêu chính xác, thiết lập những chỉ báo đo lường quá trình thực hiện và tập trung nỗ lực.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (4)

Sau đây là sơ đồ quá trình điển hình của OKR từ trên xuống dưới. Đầu tiên, CEO sẽ lập ra các mục tiêu, chúng sẽ được truyền xuống các bộ phận, sau đó là các nhóm và tiếp tục là đến từng nhân viên. Nó hoạt động tương tự như ví dụ OKR của đội bóng mà bạn đã tham khảo ở trên.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (5)

Để xây dựng được những OKR cụ thể, cần có sự gặp nhau giữa ý kiến của nhân viên và những người quản lý. Nó cũng có thể xem là một dạng đàm phán. Nhân viên cho biết, tôi muốn làm việc X trong khi nhà quản lý nói tôi muốn anh làm việc Y. Họ sẽ gặp nhau tại một điểm giữa và hướng tới mục tiêu Z.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (6)

Chu kỳ vận hành của OKR trong 1 năm, phân chia theo từng quý.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (7)

Sau đây là một vài điểm cơ bản khi áp dụng một OKR. Điều quan trọng nhất bạn cần nhớ là: Không được đặt ra quá nhiều kết quả then chốt. Điều bạn cần là 6 kết quả hoặc ít hơn, nếu không bạn sẽ rơi vào tình trạng bị dàn trải. Mỗi kết quả then chốt sẽ được phân loại vào cuối mỗi quý dựa trên thang điểm từ 0 đến 1. Mục tiêu của bạn là đạt mức 0,6-0,7. Nếu bạn đạt được 1, đồng nghĩa với bạn đã thiết lập một mục tiêu dễ dàng. Bạn sẽ có động lực phấn đấu cao hơn khi theo đuổi một mục tiêu khó khăn.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (8)

Còn đây là những sản phẩm sau cùng khi các OKR hoạt động: tất cả mọi người nỗ lực làm việc hướng tới cùng một kết quả, mọi hoạt động đều liên hệ tới mục tiêu và kết quả then chốt nhằm thúc đẩy tới công ty,…

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (9)

Vậy làm cách nào để xây dựng được một OKR tốt? Điều quan trọng nhất chính là khiến nó luôn đo lường được. Đừng nói “Tôi muốn làm cho trang web đẹp hơn” mà hãy đưa ra con số định lượng “ Tôi muốn tăng mức độ gắn kết của độc giả lên 15%”. Khát vọng và tính định lượng kết quả là những yếu tố quan trọng của một OKR tốt.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (10)
Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (11)

OKR có chức năng khác nhau tùy thuộc vào vị trí thiết lập là cá nhân, nhóm làm việc hay mức độ công ty.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (12)

Với tư cách là người thuyết trình, Rick Klau cũng giới thiệu đến người xem những bản OKR của cá nhân anh. Trong khủng hoảng tài chính, mục tiêu của Google là tạo ra doanh thu từ những tài sản đã sở hữu. Quyết định của Google là Blogger có thể kiếm nhiều tiền hơn và vì vậy Klau đã đưa ra ý tưởng để tạo ra doanh thu cho Blogger.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (13)

Anh cũng muốn tăng lượng truy cập, vì vậy buộc phải nghĩ ra ý tưởng để thu hút người đọc nhiều hơn nữa.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (14)

OKR về cải thiện danh tiếng của Blogger

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (15)

Tại thời điểm cuối quý, anh tiến hành đánh giá các kết quả đạt được. Nếu câu trả lời là có thì mức phân loại là 1 còn ngược lại là 0.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (16)

Bạn có thể nhìn thấy ở đây anh tự cho mức điểm 0,3 khi kết quả khắc phục lỗi 404 của Blogger không như mong đợi.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (17)

Việc xếp hạng này chỉ nên mất một vài phút. Đừng lãng phí quá nhiều thời gian của bạn cho nó.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (18)

Một điều cũng khá quan trọng là hãy công bố những bản OKR của bạn. Nói với toàn công ty về chúng. Những nhân viên Google đều có thể thấy OKR của đồng nghiệp mình. Một kỹ sư của Google có thể nhìn thấy những bản OKR của Larry Page và ngược lại.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (19)

Dưới đây là cách thức vận hành của OKR theo dòng thời gian.

Cỗ máy khổng lồ Google chạy “êm ru” chỉ nhờ một hệ thống quản lý đơn giản? (20)

[Discovery] Lược sử hệ điều hành: Từ DOS tới Android

Thị trường điện toán cá nhân hiện tại có rất nhiều hệ điều hành: từ iOS, Mac hay Android, Chrome OS cho đến Windows 8.1 và Windows Phone 8. Bạn có biết rằng tất cả các hệ điều hành hiện đại đều bắt nguồn từ 2 loại kiến trúc: Unix và Windows NT?

2 “gia đình” hệ điều hành phổ biến nhất hiện nay

Lược sử hệ điều hành iOS Android Windows Phone 8 Windows NT Unix chrome os steam os linux

Gần như tất cả các hệ điều hành hiện nay đều thuộc về 2 “gia đình”. Windows Phone 8 và các phiên bản Windows dành cho máy vi tính từ sau Windows XP đều sử dụng công nghệ Windows NT. Thực tế, cả Windows XP lẫn Windows Server 2003 đều sử dụng lõi Windows NT 5.2, trong khi Windows Vista, Windows 7, Windows 8 và 8.1 đều được đánh mã hiệu NT 6.x.

Nửa còn lại của thế giới hệ điều hành là Unix: từ iOS, Android, Chrome OS cho tới Mac OS X và các phiên bản Linux đều là các nhánh của Unix.

Lược sử Unix

Ban đầu, Unix là một hệ điều hành do phòng nghiên cứu Bell Labs (do Ken Thompson và Dennis Ritchie lãnh đạo) của AT&T phát triển vào khoảng cuối thập niên 1960. Phiên bản Unix đầu tiên mang trong mình một số đặc điểm vẫn còn được lưu giữ tới tận ngày hôm nay bởi cả Linux, Mac OS và Android.

Lược sử hệ điều hành iOS Android Windows Phone 8 Windows NT Unix chrome os steam os linux

Ken Thompson (trái) và Dennis Ritchie (phải) được tổng thống Clinton trao tặng Huân chương Công nghệ vào năm 1999.

Đầu tiên là “triết lý Unix”: Hãy tạo ra nhiều tiện ích thành phần (module) có khả năng làm một tác vụ duy nhất – và hãy thực hiện tác vụ này tốt hết mức có thể. Nếu bạn sử dụng terminal trên Linux, bạn sẽ hiểu được triết lý này: Tính năng pipe của hệ thống Linux có thể kết hợp nhiều tiện ích nhỏ để thực hiện các tác vụ phức tạp thông qua dấu | (xược dọc). Các ứng dụng có giao diện đồ họa trên Linux cũng chỉ thường gọi tới các gọi tiện ích nhỏ dưới nền để làm các tác vụ phức tạp. Bạn có thể lập trình shell (lập trình câu lệnh Linux) nhằm kết hợp nhiều công cụ của hệ thống để làm các tác vụ cao cấp hơn.

Unix cũng chỉ sử dụng một hệ thống tập tin duy nhất. Đây là lý do vì sao “tất cả mọi thứ đều là một file trên Linux”, từ những thiết bị phần cứng cho tới các file đặc biệt vốn được dùng để lưu trữ thông tin về toàn bộ hệ thống. Đây cũng là lý do vì sao chỉ riêng mình Windows dùng các chữ cái (C, D, E…) để phân biệt các ổ cứng: Hệ điều hành đồ họa của Microsoft không bắt nguồn từ Unix mà được xây dựng trên nền DOS. Trên các hệ điều hành Unix, ổ cứng cũng là một file và tất cả các file đều là một phần của một hệ thống tập tin duy nhất.

Lược sử hệ điều hành iOS Android Windows Phone 8 Windows NT Unix chrome os steam os linux

Biển hiệu của Bell Labs: “Sống tự do hay là chết”.

Triết lý Unix đã tồn tại trong vòng 40 năm, và bởi vậy hệ điều hành này đã có rất nhiều con cháu. Các hệ điều hành kế thừa từ Unix hiện nay có thể chia làm 2 nhánh chính.

BSD: Từ Unix tới iOS

Nhánh thứ nhất của Unix là BSD. BSD (Berkeley Software Distribution) là một hệ điều hành mã nguồn mở được Đại học California (Berkeley, Mỹ), phát triển vào cuối thập niên 1970. BSD vẫn còn tiếp tục tồn tại cho tới tận ngày nay với các phiên bản FreeBSD, NetBSD và OpenBSD.

Lược sử hệ điều hành iOS Android Windows Phone 8 Windows NT Unix chrome os steam os linux

NeXTStep: Bạn có tin đây là “ông nội” của iOS?

Một hệ điều hành khác có tên NeXTStep của NeXT (công ty do Steve Jobs thành lập sau khi bị “đá’ khỏi Apple vào năm 1985) cũng được xây dựng dựa trên BSD. Hệ điều hành PC của Apple hiện nay, Mac OS X, được xây dựng dựa trên NeXTStep sau khi Apple mua lại NeXT để mời Steve Jobs trở lại. Sau này, iOS cũng được xây dựng dựa trên Mac OS X, và do đó cả Mac OS X lẫn iOS đều là “con cháu” của BSD.

Linux: Từ Unix tới Android

Nhánh thứ 2 của Unix là Linux. Thực tế, hệ điều hành mà chúng ta vẫn gọi là “Linux” ngày nay có tên gọi chính xác là GNU/Linux, bởi hệ điều hành này được kết hợp từ 2 “phần” khác nhau: Linux và GNU.

Năm 1983, do các áp đặt của AT&T đối với bản quyền Unix trở nên ngặt nghèo hơn, dự án GNU được nhà lãnh đạo công nghệ tiên phong Richard Stallman khởi động. Dự án GNU ban đầu có mục tiêu là tạo ra một hệ điều hành hoàn chỉnh, mang triết lý Unix, tương thích với UNIX và sử dụng các phần mềm miễn phí.

Lược sử hệ điều hành iOS Android Windows Phone 8 Windows NT Unix chrome os steam os linux

Richard Stallman, người khởi động dự án GNU.

Cho đến năm 1991, dự án GNU đã tạo ra rất nhiều thành phần của một hệ thống hoàn chỉnh: từ shell (bảng) chạy dòng lệnh, các tiện ích nhỏ cho tới cả giao diện đồ họa. Tuy vậy, thành phần cốt yếu nhất của hệ thống lại chưa có mặt: GNU vẫn còn thiếu bộ lõi kernel (quản lý tác vụ, bộ nhớ…) của hệ điều hành. Ban đầu, GNU dự định sử dụng bộ kernel Hurd, song cho tới thời điểm này, sau 23 năm phát triển, bộ kernel Hurd vẫn chưa được hoàn thiện.

Nhưng đúng vào năm 1991, Linus Torvalds phát hành bộ kernel Linux đầu tiên. Kernel Linux là mảnh ghép cuối cùng còn thiếu của bức tranh GNU. Kết hợp giữa bộ kernel Linux và các phần khác của hệ thống (giao diện desktop đồ họa, các ứng dụng như Firefox, shell chạy dòng lệnh…) tạo ra một hệ điều hành hoàn chỉnh có tên gọi chính xác là GNU/Linux, vốn thường chỉ được gọi là “Linux”.

Lược sử hệ điều hành iOS Android Windows Phone 8 Windows NT Unix chrome os steam os linux

Linus Torvalds, người phát triển nhân Linux.

Các đơn vị phát hành Linux (Linux Distribution) khác nhau sẽ tung ra các phiên bản GNU/Linux khác nhau: Mỗi một phiên bản Linux sẽ có một kho ứng dụng riêng, có các ứng dụng mặc định riêng và cũng sẽ có một số tính năng riêng. Ví dụ, Ubuntu và Mint có giao diện đồ họa khá hoàn chỉnh để nhắm vào người tiêu dùng, trong khi các doanh nghiệp sẽ sử dụng các phiên bản Linux ổn định, an toàn hơn như Red Hat Enterprise hoặc Debian. Một số phiên bản Linux như Fedora lại mang trong mình triết lý riêng: Không sử dụng phần mềm mã nguồn đóng.

Chắc hẳn, các fan của Google đã “nằm lòng” rằng Android cũng được phát triển dựa trên Linux. Chrome OS cũng được xây dựng dựa trên Linux. Valve, nhà phát hành game trực tuyến số 1 thế giới, cũng đang xây dựng Steam OS để làm một hệ điều hành PC dành riêng cho game dựa trên Linux.

Ngoài ra, các tập đoàn lớn cũng tự phát triển các phiên bản Unix của riêng mình: AT&T UNIX, SCO UnixWare, Sun Microsystems Solaris, HP-UX, IBM AIX, SGI IRIX… song cho tới giờ các phiên bản Unix này gần như không còn được sử dụng nữa.

Windows: DOS và Windows NT

Lúc đầu, Unix được hi vọng sẽ trở thành hệ điều hành số 1 trên máy vi tính. Song, với sự ra đời của máy vi tính cá nhân IBM vào năm 1981, các hệ điều hành DOS bắt đầu bùng nổ về số lượng. Nhờ kết hợp với IBM, phiên bản DOS của Microsoft (MS-DOS) là phiên bản thành công hơn cả, góp phần trực tiếp tạo ra cơn bão máy vi tính cá nhân trong suốt 3 thập niên 80, 90 và 2000.

Lược sử hệ điều hành iOS Android Windows Phone 8 Windows NT Unix chrome os steam os linux

Vết tích của DOS còn lại trên Windows 7: hệ điều hành này sử dụng dấu xuyệt ngược để phân chia thư mục.

Cho đến tận Windows ME (Me Edition), Windows vẫn được xây dựng trên nền MS-DOS: các phiên bản đầu tiên như Windows 3.1 thậm chí còn bắt người dùng phải có bản quyền MS-DOS và chạy trên nền MS-DOS. Nếu sử dụng máy vi tính tại Việt Nam từ những ngày đầu, bạn chắc hẳn sẽ còn nhớ phải chạy lệnh “win.exe” để khởi động Windows 3.1.

Đến năm 1995, Windows 95 với giao diện người dùng khá hoàn chỉnh ra đời, bắt đầu cho quá trình thoái trào của DOS. Windows 95 vẫn chạy trên kernel của MS-DOS, song không đòi hỏi người dùng phải có bản quyền DOS. Cả Windows 95, 98 và Windows ME đều tiếp tục sử dụng kernel DOS, nhưng bắt đầu từ Windows XP, Microsoft đã chuyển sang sử dụng một bộ lõi mới.

Lược sử hệ điều hành iOS Android Windows Phone 8 Windows NT Unix chrome os steam os linux

Windows 2000: một trong số các phiên bản đầu tiên của Windows NT.

Ngay từ khi vẫn tiếp tục tung ra các phiên bản Windows 9x (nền DOS) như 98 và ME cho người tiêu dùng, Microsoft đã phát hành một hệ điều hành Windows hiện đại và ổn định hơn tới khách hàng doanh nghiệp: Windows NT. Windows NT là viết tắt của “Windows New Technology” (Windows Công nghệ mới). Sau khi tung ra Windows 2000 và một hệ điều hành cùng tên với công nghệ mới, Microsoft đã mang nền tảng NT tới tay người tiêu dùng với Windows XP.

Tất cả các hệ điều hành mới của Microsoft đều sử dụng lõi Windows NT: Cụ thể là từ Windows 7, Windows 8, Windows RT, Windows Phone 8, Windows Server cho tới hệ điều hành của Xbox One. Windows Phone 7 sử dụng lõi hoàn toàn khác biệt (Windows CE), và do đó không tương thích với Windows Phone 8.

Lược sử hệ điều hành iOS Android Windows Phone 8 Windows NT Unix chrome os steam os linux

Ứng dụng Windows XP, Vista và 7 tương thích khá tốt với Windows 8.

Windows NT vẫn tiếp tục giữ lại một số đặc tính của nền DOS, ví dụ như sử dụng chữ cái để ký hiệu ổ đĩa, sử dụng dấu \ để ký hiệu đường dẫn… Lý do là Microsoft cần tăng tính tương thích ngược (backward compability) với các phiên bản cũ. Tuy vậy, khi Windows XP ra mắt, vấn đề tương thích đã khiến nhiều người dùng quyết định chọn ở lại cùng Windows 98. Từ Windows XP tới Windows 8.1 hiện nay, vấn đề tương thích ứng dụng giữa các phiên bản Windows đã được cải thiện rất nhiều. Hiển nhiên, điều này là do các phiên bản Windows mới đều sử dụng lõi NT.

Thay lời kết

Nếu đã từng dùng Mac OS X và Linux, bạn sẽ nhận thấy hai hệ điều hành này có nét “na ná” giống nhau, và cả 2 đều rất khác so với Windows. Lý do là cả Linux và Mac OS X đều được xây dựng trên Unix, trong khi Windows có “cội nguồn” là DOS. Bài viết này chỉ tóm lược một phần rất nhỏ lịch sử các hệ điều hành máy vi tính, và hi vọng, qua đó bạn có thể hiểu được tại sao các hệ điều hành lại giống-và-khác nhau đến như vậy.

Lược sử hệ điều hành iOS Android Windows Phone 8 Windows NT Unix chrome os steam os linux

Các phiên bản Linux khác nhau.

Nếu thích thú với các hệ điều hành – phần quan trọng nhất trong trải nghiệm số của chúng ta, hãy thử nghiệm tất cả những gì bạn có thể: từ iOS cho tới Windows Phone 8, từ Ubuntu cho tới Mac OS X, từ Windows cho tới Chrome OS. Tất cả đều là thành quả hàng chục năm trời nghiên cứu, phát triển của các tập đoàn lớn cũng như các nhà lãnh đạo tiên phong của thế giới công nghệ với một mục đích duy nhất: hoàn thành ước nguyện của tất cả mọi người dùng, bất kể là họ cần giao diện đẹp, dễ sử dụng, cần một hệ thống siêu ổn định chỉ đơn giản là đặt tính “mở” và tự do lên trên hết.

[Discovery] Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Khi bắt đầu quyết định viết về Trái đất, tác giả bài viết nhận ra rằng đây là một công việc khó khăn: tuy là một hành tinh nhỏ so với các hành tinh khác, nhưng Trái đất vẫn là một hành tinh quá to lớn và phức tạp. Và rồi họ quyết định sẽ tiếp cận theo cách khác: thay vì chia ra và phân tích từng phần riêng lẻ cấu thành nên Trái đất, chúng ta hãy cùng nhau xem xét một cách tổng thể, xem chúng có liên quan đến nhau như thế nào. Tất cả sẽ xoay quanh ảnh hưởng của Mặt trời lên Trái đất: nếu không có Mặt trời, sự sống trên Trái đất không thể tồn tại.

Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Năng lượng và ánh sáng

So với phần còn lại của vũ trụ, Trái đất chỉ là một hành tinh nhỏ bé. Hành tinh của chúng ta, cùng với bảy hành tinh khác, quay xung quanh Mặt trời – vốn chỉ là một ngôi sao nhỏ trong khoảng hơn 200 tỉ ngôi sao trong thiên hà của chúng ta. Và thiên hà của chúng ta – dải Ngân Hà, Milky Way – cũng chỉ là một phần của vũ trụ, gồm hàng triệu thiên hà khác cùng với các sao và hành tinh bên trong. Trái đất chỉ giống như một hạt cát ở bờ biển vậy.

So với loài người, thì ngược lại, Trái đất quả thực quá to lớn. Nó có đường kính 7.926 dặm (khoảng 12.756 km) ở xích đạo, với khối lượng khoảng 6 x 10^24 kg. Trái đất quay xung quanh Mặt trời với vận tốc khoảng 66.638 dặm một giờ (29,79 km một giây). Những con số khổng lồ. Nhưng nó vẫn là rất nhỏ so với kích thước của Mặt trời.

Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Nhìn từ Trái đất, Mặt trời có vẻ rất nhỏ. Bởi vì nó cách Trái đất những 93 triệu dặm. Thực tế, đường kính Mặt trời lớn hơn Trái đất khoảng 100 lần, một Mặt trời có thể chứa trong đó khoảng 1.000.000 Trái đất.

Nếu không có Mặt trời, Trái đất không thể tồn tại được. Bạn có thể tưởng tượng, Trái đất là một cỗ máy khổng lồ, một hệ thống vô cùng phức tạp. Nó cần năng lượng để hoạt động, và nguồn năng lượng đó chính là Mặt trời. Mặt trời là một nguồn năng lượng hạt nhân khổng lồ – phản ứng nhiệt hạch tạo một nguyên tử Heli từ bốn nguyên tử Hidro giúp sinh ra nhiệt và ánh sáng. Mỗi mét vuông trên Trái đất tiếp nhận năng lượng khoảng 342 Watt mỗi năm. Tổng cộng là 1,7 x 10^17 Watt, tương đương với lượng năng lượng sinh ra bởi khoảng 1,7 tỉ nhà máy điện.

Khi năng lượng này đến Trái đất, nó cung cấp năng lượng cho rất nhiều phản ứng, chu trình và hệ thống. Nó điều khiển sự đối lưu của khí quyển và đại dương. Nó giúp cây cối phát triển. Nó giúp cho nhiệt độ Trái đất ổn định, và rồi sự sống có thể tồn tại trên hành tinh của chúng ta.

Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Ngày và đêm

Một trong những ảnh hưởng lớn nhất của Mặt trời lên Trái đất là thứ bạn trải qua hàng ngày: hiện tượng ngày và đêm. Khi tự quay quanh trục của mình, một phần Trái đất nhận ánh sáng Mặt trời, trong khi phần kia chìm trong bóng đêm. Nói cách khác, khi nhìn từ Trái đất, đó là hiện tượng Mặt trời mọc và lặn. Bất kì nơi nào trên Trái đất đều nhận ánh sáng và nhiệt từ Mặt trời vào ban ngày, sau đó sẽ mất nhiệt vào ban đêm.

Bốn mùa trên Trái đất cũng là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất về mối quan hệ giữa Trái đất và Mặt trời. Trục Trái đất nghiêng khoảng 23,5 độ. Một nửa bán cầu đối diện với Mặt trời sẽ nhận được nhiều ánh sáng hơn – ở những nơi này sẽ là mùa hè, và sẽ là mùa đông ở bán cầu bên kia. Ảnh hưởng này không lớn lắm ở gần Xích đạo – nơi đây nhận được lượng ánh sáng Mặt trời mỗi ngày gần tương đương nhau trong suốt cả năm. Trong khi, ở hai cực, không nhận được một chút ánh sáng Mặt trời nào trong suốt mùa đông, đây là một trong những lý do khiến thời tiết ở nơi đây lại băng giá như vậy.

Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Trong khi nhiều người chỉ nghĩ đơn giản, sự khác biệt giữa ngày và đêm (hay mùa hè và mùa đông) là một điều tất nhiên, thì thực tế sự thay đổi về ánh sáng và nhiệt độ tạo nên ảnh hưởng vô cùng lớn tới sự hoạt động của các hệ thống trên Trái đất. Một trong số đó là sự lưu thông không khí trên Trái đất.

Hiệu ứng Coriolis, một sản phẩm sinh ra do Trái đất tự quay, giúp tạo nên hệ thống mùa phong phú và đa dạng. Nó còn giúp tạo nên nhiều loại gió, như gió Tín phong thổi đến xích đạo, hay loại gió Tây ôn đới thổi từ đường chí tuyến đến vòng cực. Những hình thái gió mùa này giúp cho không khí và hơi ẩm di chuyển giữa các vùng, và tạo nên sự đa dạng về mùa.

Mặt trời cũng góp phần trong quá trình tạo ra mưa và gió. Khi Mặt trời làm nóng không khí ở một khu vực nào đó, áp suất tại đó sẽ giảm đi. Không khí từ vùng lân cận sẽ lập tức tràn vào, đây chính là cơ chế tạo nên gió. Không có Mặt trời, sẽ không có gió trên Trái đất. Và còn hơn thế, không có Mặt trời, chúng ta cũng không có không khí để thở. Hãy thử tìm hiểu ở phần tiếp theo.

Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Đường và carbon

Phần lớn trong bầu khí quyển Trái đất là khí nitơ. Oxy chỉ chiếm 21% trong không khí chúng ta hít thở. Ngoài ra còn có khí carbon dioxid, argon, ozone, hơi nước, và rất nhiều loại khí khác, tạo nên khoảng gần 1% thành phần khí quyển. Những loại khí này đến từ nhiều nguồn, kể từ khi Trái đất hình thành.

Nhưng các nhà khoa học lại tin rằng, trên Trái đất sẽ không có khí oxy, nếu không có cây xanh. Cây xanh (và một số loài vi khuẩn), bằng quá trình quang hợp, chúng chuyển hóa nước và khí carbon dioxid thành đường và khí oxy.

Quang hợp là một quá trình phức tạp. Về cơ bản, nó giống như cách mà cơ thể chúng ta phân hủy thức ăn để tạo năng lượng cho cơ thể hoạt động. Về bản chất, sử dụng năng lượng ánh sáng từ Mặt trời, cây xanh có thể chuyển hóa carbon dioxid và nước thành glucose và khí oxy qua phản ứng:

6CO2 + 12H2O + ánh sáng -> C6H12O6 + 6O2+ 6H2O

Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Nói cách khác, trong khi chúng ta thì hít khí oxy và thải ra khí carbonic, thì cây xanh lại ngược lại, chúng hít khí carbonic và thải ra khí oxy. Một số nhà khoa học tin rằng, trên Trái đất không hề có oxy trước khi cây xanh xuất hiện và khởi động quá trình quang hợp.

Nếu không có Mặt trời cung cấp ánh sáng cho quá trình quang hợp, chúng ta sẽ không thể có không khí để thở. Nếu không có cây cối cung cấp lương thực cho con người và các loài động vật khác, chúng ta cũng sẽ không có gì để ăn.

Hiển nhiên, cây cối rất quan trọng cho sự tồn tại của loài người. Không chỉ vì nó cung cấp khí oxy và thức ăn, chúng còn giúp điều chỉnh lượng khí carbonic, hay còn gọi là khí nhà kính, trong khí quyển. Chúng còn giúp phòng tránh sự xói mòn, bạc màu của đất do gió và nước. Thêm nữa, chúng còn đưa hơi nước vào không khí trong quá trình quang hợp. Lượng hơi nước này, tiếp tục tham gia vào chu trình nước, được điều khiển bởi Mặt trời. Hãy cùng tìm hiểu về chu trình nước trong phần tiếp theo.

Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Nước và lửa

Mặt trời tác động rất lớn đến nguồn nước của chúng ta. Nó làm nóng các đại dương ở gần xích đạo, ngược lại, nước ở hai cực thì lạnh đi. Chính vì lẽ đó mà tồn tại các dòng biển nóng và lạnh, chúng di chuyển một lượng lớn nước ấm và nước lạnh đi khắp nơi, ảnh hưởng đến thời tiết và khí hậu khắp thế giới. Mặt trời cũng điều khiển chu trình nước, nó làm bay hơi khoảng 495.000 kilomet khối hơi nước vào khí quyển mỗi năm.

Bạn hãy nhớ lại xem, khi bạn đi bơi, lúc bạn lên bờ và nằm phơi nắng, chỉ một lúc sau cơ thể bạn sẽ lại khô như lúc trước khi bơi. Khi ấy, quá trình bay hơi đã xảy ra. Ngược lại, nếu bạn từng thấy hơi nước đọng trên thành cốc trà đá, thì bạn đã thấy hiện tượng ngưng tụ rồi đấy. Đây chính là hai quá trình chính, trong chu trình nước. Chu trình nước này là nguyên nhân sinh ra mây và mưa, cũng như nguồn nước ngọt mà bạn đang sử dụng.

Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Nếu không có Mặt trời khởi phát quá trình bay hơi nước, chu trình nước sẽ không tồn tại. Trên Trái đất sẽ không có mây, mưa hay thời tiết. Nước trên Trái đất sẽ chỉ ở yên trên mặt đất, chính xác hơn, nước sẽ bị đóng băng, do không có Mặt trời để sưởi ấm, và Trái đất sẽ băng giá mãi mãi.

Tia cực tím và gió Mặt trời

Nguồn năng lượng khổng lồ của Mặt trời có hai mặt hại chính: tia cực tím và gió Mặt trời. Tia cực tím có thể gây ung thư, đục thủy tinh thể và những vấn đề về sức khỏe khác. Gió Mặt trời, bản chất là một luồng dịch chuyển mang điện tích, hay dòng ion hoá, sẽ thổi bay khí quyển Trái đất. May mắn thay, Trái đất có hàng rào bảo vệ tự nhiên chống lại cả hai tác nhân này. Tầng ozon bảo vệ con người khỏi tia cực tím, và từ trường bảo vệ chúng ta khỏi gió Mặt trời.

Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Tầng bình lưu của Trái đất có một lớp mỏng ozone (O3), được sinh ra nhờ Mặt trời. Phân tử ozone cấu tạo bởi 3 nguyên tử oxy – đây là một phân tử không bền vững, tuy nhiên phải mất rất nhiều năng lượng để tạo ra được nó. Khi tia cực tím đến Trái đất và va chạm với các phân tử oxy, phân tử oxy sẽ bị tách ra thành hai oxy nguyên tử. Mỗi oxy nguyên tử này khi gặp một phân tử oxy sẽ tạo thành một phân tử ozone. Đây là một phản ứng thuận nghịch: khi tia cực tím va chạm với phân tử ozone, nó lại bị tách ra thành phân tử oxy và một oxy nguyên tử.

Quá trình này gọi là chu trình oxy – ozone, và nó giúp chuyển năng lượng của tia cực tím thành nhiệt năng, từ đó giúp ngăn ngừa tác dụng có hại của tia cực tím đến con người. Nếu không có Mặt trời, Trái đất sẽ không có tầng ozone; nhưng nếu không có Mặt trời, thì chúng ta cũng chẳng cần tầng ozone nữa.

Đó là cơ chế giúp bảo vệ con người khỏi tia cực tím. Còn về gió Mặt trời, Trái đất đã tự tạo ra được hàng rào bảo vệ. Nếu không có từ trường, các hạt mang điện từ gió Mặt trời sẽ thổi bay bầu khí quyển của Trái đất. Từ trường được sinh ra từ bên trong lòng của Trái đất – đó là kết quả của sự tương tác giữa các lớp bên trong và bên ngoài của Trái đất.

Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Trong nhân Trái đất có chứa một lượng lớn sắt. Phần lõi trong cùng ở dạng đặc, tiếp theo là lớp kim loại nóng chảy – hai lớp này ở sâu trong lòng đất. Chúng được ngăn cách với lớp vỏ Trái đất bằng một lớp mantle rất dày. Lớp mantle này ở thể rắn, tuy nhiên lại rất mềm, đây là nguồn gốc của dòng dung nham trong các ngọn núi lửa. Quay lại với hai lớp kim loại trong cùng, chúng cũng quay quanh trục giống như Trái đất, nhưng do mật độ hai lớp khác nhau, nên chúng có vận tốc quay khác nhau, từ đó sinh ra hiệu ứng dynamo, hình thành dòng điện và tạo nên từ trường của Trái đất – giống như một nam châm điện khổng lồ vậy. Khi gió Mặt trời đến Trái đất, chúng sẽ tương tác với từ trường của Trái đất và bị đẩy ra xa, từ đó bảo vệ Trái đất khỏi tác động của gió Mặt trời.

Từ hiệu ứng dynamo, Trái đất trở thành một nam châm lớn có hai cực. Hai cực của Trái đất thay đổi theo chu kì – khoảng 400 lần trong vòng 330 triệu năm. Từ trường sẽ yếu đi khi hai cực thay đổi, tuy nhiên, qua nghiên cứu, người ta dự đoán rằng Mặt trời sẽ “hỗ trợ” Trái đất trong giai đoạn này, bằng cách tương tác với lớp khí quyển để tăng cường thêm từ trường.

Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Hành tinh và các ngôi sao

Một trong những lý thuyết nổi trội nhất về nguồn gốc hình thành Trái đất, là về một đám mây bụi quay tròn có tên gọi là tinh vân Mặt trời. Tinh vân này là một sản phẩm sau vụ nổ Big Bang. Các nhà triết học, người theo đạo và các nhà khoa học có vô vàn những ý kiến khác nhau về nguồn gốc của vũ trụ, nhưng nổi tiếng nhất và được chấp nhận nhiều nhất, là lý thuyết về vụ nổ Big Bang. Theo lý thuyết này, vũ trụ được sinh ra sau một vụ nổ cực lớn.

Trước khi xảy ra vụ nổ Big Bang, tất cả vật chất và năng lượng tập trung tại một điểm có tên gọi là điểm kì dị – singularity. Đây là một điểm có nhiệt độ cực cao và mật độ lên đến vô hạn – giống như ở điểm trung tâm của các lỗ đen. Điểm kì dị trôi trong chân không, cho đến khi nó bùng nổ – khí, hơi, vật chất, năng lượng tỏa ra theo mọi hướng.

Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Sau khi các loại khí nguội đi, rất nhiều lực tác động lên các hạt và khiến chúng gắn vào với nhau. Càng nguội, chúng di chuyển càng chậm, và dần dần hình thành các ngôi sao. Quá trình này xảy ra mất khoảng một tỉ năm.

Khoảng 5 tỉ năm trước, một phần của đám khí sau vụ nổ Big Bang, đã sinh ra Mặt trời của chúng ta. Ban đầu, nó rất nóng, đám mây bụi quay xung quanh nó chứa vô vàn các nguyên tố khác nhau. Khi Mặt trời tiếp tục quay, các nguyên tố này tạo thành một đĩa có tên gọi là tinh vân Mặt trời. Trái đất và các hành tinh khác hình thành trong chiếc đĩa này. Trung tâm đám mây tiếp tục ngưng tụ, tiếp tục bốc cháy và tạo thành Mặt trời.

Hiện tại chưa có bằng chứng chắc chắn về việc Trái đất hình thành như thế nào trong đám mây bụi đó. Các nhà khoa học đưa ra hai giả thiết, và cả hai giả thiết này đều liên quan đến việc các phân tử và các hạt kết dính vào nhau. Chúng có chung ý tưởng cơ bản: khoảng 4.6 tỉ năm trước, Trái đất được hình thành từ các hạt quay xung quanh chiếc đĩa khổng lồ hình thành nên Mặt trời: khi Mặt trời đốt cháy, nó thổi các hạt ra không gian xung quanh, và hình thành nên hệ Mặt trời ngày nay. Mặt trăng cũng là một phần của tinh vân Mặt trời.

Những điều có thể bạn chưa biết về Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại

Thuở ban đầu, Trái đất rất nóng. Dần dần, khi nó nguội đi, lớp vỏ Trái đất hình thành. Thiên thạch rơi xuống Trái đất tạo nên các hố sâu. Nhiệt độ tiếp tục giảm xuống, đồng nghĩa với việc nước sẽ ngưng tụ, và tạo nên hồ, biển và các đại dương.

Trải qua hàng ngàn quá trình như động đất, núi lửa,… bề mặt Trái đất mới có thể giống như hiện tại. Khối lượng khổng lồ của nó giúp tạo nên trọng lực giữ mọi thứ lại trên bề mặt, và giúp chúng ta có nơi để sống. Tất cả các quá trình này, tất cả các vật chất này, sẽ không thể tồn tại nếu không có Mặt trời.

[Discovery] Những bí mật về động vật mới được giải mã

Khoa học mỗi năm đều có những bước tiến, chúng ta luôn phấn đấu và tìm hiểu trên mọi lĩnh vực. Và đối với thế giới sinh vật học phong phú cũng như vậy. Qua thời gian càng ngày càng có nhiều các loài động vật mới được phát hiện ra, những loài trong quá khứ được nghiên cứu thêm và những bí ẩn cũng dần được khám phá. Một năm mới sắp tới và qua quá trình tổng hợp, có thể thấy rằng năm vừa rồi là một năm tuyệt vời của giới sinh vật học với nhiều phát hiện thú vị. Và sau đây chúng ta sẽ cùng điểm lại một số những sự kiện đặc sắc nhất.

Chuột châu chấu miễn dịch với chất độc của bọ cạp

Những bí mật về động vật mới được giải mã (Phần I)

Loài chuột là một loài được đánh giá là nhút nhát và có khả năng bị tiêu diệt bởi nhiều kẻ thù đáng sợ trong thế giới tự nhiên. Đặc biệt với một loài có độc tính nguy hiểm đối với con người như loài bọ cạp thì dường như làm tê liệt hay giết chết một chú chuột không có gì là khó. Theo lẽ thường là như vậy nhưng với loài chuột Grasshopper (chuột châu chấu, thường sinh sống ở sa mạc) thì lại khác. Chúng lại hoàn toàn miễn dịch với độc của loài bọ cạp Bark Arizona (có chất độc cực mạnh). Những chú chuột châu chấu đã sử dụng khả năng này để biến những sát thủ bọ cạp trở thành con mồi ngon lành và dễ xơi.

Trong năm vừa rồi các nhà nghiên cứu tại Đại Học Cambridge đã tiến hành tìm hiểu và có được câu trả lời trước hiện tượng này. Họ đã nghiên cứu và nhận thấy chuột châu chấu có đột biến ở tế bào giúp kháng được chất độc của bọ cạp. Sở dĩ có sự đột biến kháng độc trong gen của loài chuột này là do sự khan hiếm thức ăn ở môi trường sa mạc và những trận đụng độ thường xuyên với loài bọ cạp. Nghiên cứu này không chỉ mang tính chất khám phá thuần túy mà còn là nền tảng quan trọng trong tương lai giúp các nhà khoa học tìm ra thuốc giúp con người giảm đau và kháng độc bọ cạp.

Cá sấu dùng bẫy bắt mồi

Những bí mật về động vật mới được giải mã (Phần I)

Một trong những điều thú vị nhất được ghi nhận trong năm vừa qua chính là về nghiên cứu của phó giáo sư Vladimir Dinets tới từ Đại học Tennessee, Mỹ. Nghiên cứu này đã nghiên cứu về đặc tính săn mồi của loài cá sấu và kết quả thu nhận được rằng chúng thường sử dụng những cành cây nhỏ dài để bẫy những con chim. Việc sử dụng bẫy, dụng cụ để săn mồi trong thế giới động vật là một điều không lạ, tuy nhiên đối với loài bò sát thì đây được ghi nhận là trường hợp đầu tiên.

Theo giáo sư Vladimis Dinets, nhóm nghiên cứu đã tiến hành quan sá các con cá sấu ở vùng nước nông, đầm lầy trên một số khu vực. Hiện tượng cá sấu dùng cành cây nhử thường được dùng vào khoảng thời gian các loài chim tới tập trung để làm tổ. Khi đó, chúng sẽ ngậm những cành cây khô, dài và nằm chờ đợi các chú chim lội vào khu vực đó để làm tổ. Ngay khi loài chim bước vào lãnh địa, lũ cá sấu sẽ ngay lập tức chớp lấy thời cơ đớp gọn con mồi. Như vậy, những con cá sấu đã rất tinh ranh khi nhận thấy rằng lũ chim có nhu cầu lấy vật liệu xây tổ là những cành khô, từ đó chúng đã tiến hành ngụy trang dẫn dụ con mồi. Nghiên cứu này đã được tiến hành lần đầu ở Ấn Độ từ năm 2007 và sau này tiếp tục được nghiên cứu ở 4 khu vực khác nhau tại Louisiana, Mỹ. Trong một năm, thời điểm cá sấu có hành vi dùng cành cây nhử mồi phổ biến nhất là mùa làm tổ của loài cò bạch và diệc (khoảng tháng 3-4 háng năm). Từ những kết quả trên, nhóm nghiên cứu đã kết luận rằng phương pháp săn mồi này hoàn toàn dựa vào mùa sinh sản của con mồi.

Với kết quả của nghiên cứu này, rõ ràng khả năng săn mồi tuyệt vời của loài cá sấu càng được khẳng định và người ta cũng sẽ không phải thắc mắc vì sao trong các phim tài liệu hoặc ảnh chụp cá sấu lại thường ngậm cành cây nữa. Trong thời gian tới sẽ có thêm những nghiên cứu sâu hơn về cách săn mồi của động vật bò sát nói chung.

Nhím biển có thể giúp cứu cả thế giới

Những bí mật về động vật mới được giải mã (Phần I)

Đừng nghĩ là cứu thế giới ở đây là biến thành một nhân vật điện ảnh hay hoạt hình và chặn đứng một thiên thạch khổng lồ đâm vào trái đất. Những chú nhím biển thực sự là những anh hùng khi có thể có những tác động tốt và thiết thực cho sinh thái của trái đất, làm chậm quá trình nóng lên toàn cầu qua việc chuyển đổi CO2 thành canxi cacbonat. Các nhà khoa học đã biết rằng loài nhím biển thu nhận CO2 và “vôi hóa” chúng trở thành lớp vỏ trong nhiều năm trước. Tuy nhiên chi tiết về quá trình này chưa bao giờ sáng tỏ cho tới giữa năm 2013, khi một nhóm các nhà khoa học thuộc đại học Newcastle thực hiện một số thí nghiệm và có được kết quả chính xác hơn.

Lidija Siller cùng các cộng sự của mình đã thấy rằng bộ vỏ ngoài của nhím biển có nồng độ nikel rất cao, giúp hấp thu CO2 và chuyển đổi thành canxi cacbonat cho bộ xương trong. Các nhà khoa học cũng đã lên hình mẫu cho việc thu giữ CO2 theo cơ chế của loài nhím biển. Theo đó, những khí thải thay vì từ ống khói đi thẳng vào môi trường thì nó sẽ phải đi qua một cột nước giàu hạt nano nickel. Khoáng chất canxi cacbonat rắn hình thành sẽ được thu hồi ở phần dưới cùng của cột. Những chất rắn thu được sẽ trở thành nguyên liệu thích hợp để phục vụ cho các nhà máy điện, nhà máy sản xuất hóa chất, không chỉ ít tốn chi phí mà còn thu được phụ phẩm làm chất phụ cho xi măng và những vật liệu xây dựng khác. Có thể nói, nếu những ứng dụng nói trên thành công thì thế giới của chúng ta sẽ hoàn toàn được cứu bởi chính chúng ta.

Tắc kè thay đổi màu sắc để dằn mặt đối thủ

Những bí mật về động vật mới được giải mã (Phần I)

Tắc kè hoa là một họ thuộc loài bò sát có vảy. Chúng có khả năng thay đổi màu da bao gồm hồng, xanh dương, đỏ, da cam, xanh ngọc, vàng, và màu xanh lá cây. Màu sắc là một ngôn ngữ được sử dụng để bảo vệ lãnh thổ, thể hiện cảm xúc và giao tiếp với bạn tình tiềm năng. Nó cũng là một phương tiện điều tiết thân nhiệt. Mới gần đây, hai nhà khoa ọc Russel Ligon và Kevin McGraw tuộc ASU đã có nghiên cứu chỉ ra rằng tắc kè hoa còn sử dụng năng lực thay đổi màu để thể hiện khả năng của mình trước đối thủ.

Hai nhà khoa học đã cho một số cặp thằn lằn bản địa của các vùng núi Trung Đông đấu với nhau bằng cách ghép đôi tổng số 45 lần kết hợp khác nhau và kèm theo các cặp trong các khu vực nghiên cứu riêng biệt 30 phút. Máy ảnh kỹ thuật số tự động chụp ảnh sau mỗi 4 giây. Nhóm nghiên cứu sau đó sử dụng các hình ảnh để nghiên cứu những thay đổi trong 28 điểm màu sắc khác nhau trên mỗi cơ thể tắc kè. Sau khi có kết quả và tiến hành phân tích, họ thấy rằng rằng tắc kè hoa đực thay đổi màu sắc càng nhanh và sáng hơn, càng có nhiều khả năng giành chiến thắng hơn trong trận chiến.Những cá thể với các sọc màu xỉn hơn dọc hai bên cơ thể có xu hướng lùi lại để tránh những con có sọc sáng hơn. Rõ ràng màu sắc sáng ở đây thể hiện được phần nào khả năng sức khỏe và sinh lý của những con đực vượt trội hơn.

Dù nghiên cứu đã rất thành công nhưng nó vẫn chưa thể chỉ ra được làm sao một con đực có thể nhận biết được thứ hạng tương đối của mình so với con khác. Các nhà khoa học đánh giá rất cao nghiên cứu này và đây sẽ là bước tiên phong mở đường cho các khám phá về loài tắc kè về sau này.

Chim chú ý tới giới hạn tốc độ

Những bí mật về động vật mới được giải mã (Phần I)

Hai nhà khoa học thuộc Đại Học Quebec, Canada là Pierre Legagneux và Simon Ducatez đã thực hiện một nghiên cứu về loài chim và cho thấy rằng chúng có thể đoán ra mức giới hạn tốc độ trên một con đường cụ thể. Hai nhà khoa học đã nhận thấy rằng chim chóc ở đường cất cánh khi chiếc xe tiến gần tới một khoảng cách nhất định và phản ứng của chúng đều tương tự nhau trong khi tốc độ của từng chiếc xe đi qa khác nhau. Thêm vào đó, loài chim đã có những phản ứng tùy thuộc vào tín hiệu giao thông, tốc độ giới hạn của một đoạn đường. Ví dụ như ở đoạn đường giới hạn tốc độ 50km/h, lũ chim sẽ bay đi khi chiếc xe còn cách 15 mét nhưng nếu ở đoạn đường giới hạn tốc độ là 110km/h thì lũ chim sẽ bay đi khi xe cách đó 75m. Đây hoàn toàn là một khác biệt lớn. Theo như chuyên gia về hành vi động vật – Daniel Blumstein thì điều này xảy ra do loài chim đã có quan sát và học hỏi trên quãng đường đó, ví dụ như lúc đầu chúng không biết được tốc độ của xe đi đến nên bị va chạm nhưng qua thời gian chúng đã quen dần và ghi nhớ khoảng vận tốc mà các lái xe phải tuân thủ trên đoạn đường đó, từ đó có những phán đoán chuẩn hơn để tránh va chạm.

Nghiên cứu này không chỉ giúp chúng ta nhận ra thêm một tập tính thú vị của loài chim mà còn cho thấy khả năng học hỏi từ môi trường xung quanh đáng ngạc nhiên của loài chim.

Voi hiểu cử chỉ của con người

Khám phá những bí ẩn trong thế giới động vật (Phần II)

Voi là một loài thường xuyên được thuần hóa để con người sử dụng nhằm mục đích vận chuyển, đi lại, giải trí … Con người sẽ huấn luyện voi phản ứng theo thói quen để ra hiệu. Tuy nhiên theo một nghiên cứu mới đây thì có vẻ như không cần phải huấn luyện và thuần hóa đặc biệt loài voi vẫn có thể hiểu cử chỉ của con người.

Hai nhà khoa học Richard Byrne và Anna Smet đến từ trường Đại học St Andrews, Scotland đã tiến hành nghiên cứu với 11 con voi châu Phi chuyên chở khách du lịch ở khu vực thác Victoria, nằm gần biên giới giữa Zambia và Zimbabwe. Các con voi được được huấn luyện làm theo các yêu cầu bằng giọng nói, nhưng không được huấn luyện hiểu cử chỉ của con người. Trong khi nghiên cứu, họ giấu những mẩu thức ăn lẫn trong một số thùng đựng nhỏ, sau đó chỉ tay vào chiếc thùng được giấu thức ăn để hướng dẫn những con voi. Sau khoảng hai phần ba thời gian, các con voi đi đến đúng nơi giấu thức ăn trước đó. Tất cả chúng đều có một lựa chọn chính xác, thậm chí nhiều con chọn đúng nơi cất đồ ăn ngay từ lần đầu tiên.

Theo lời Richard Byrne, ông cho biết điều thực sự làm họ ngạc nhiên đó là chúng không cần phải học bất kỳ điều gì. Chúng có khả năng hiểu rất tốt, ngay cả từ lần thử đầu tiên, cuối cùng thì những nhà khoa học đã có thể nhận ra khả năng hiểu cử chỉ con người của loài vật này. Bằng cách chỉ ra rằng loài voi châu Phi hiểu cử chỉ của con người một cách tự nhiên mà không cần phải huấn luyện, giới khoa học có thể chứng minh được khả năng này không chỉ có ở con người mà đã tiến hóa ở một loại động vật khác biệt với các loài linh trưởng.

Phát hiện của nhóm nghiên cứu cho thấy, khả năng làm theo hành động chỉ tay của con người ở loài voi có thể xuất phát từ đặc điểm xã hội của chúng. Loài voi sống thành các đàn lớn và thể hiện nhiều hành vi bộc lộ cảm xúc như đánh dấu mộ của những thành viên trong đàn và khóc thương cho cái chết của những con voi đã chết. Các con voi cũng có thể tự nhận ra mình trong gương, một dấu hiệu của động vật có tính xã hội và sự đồng cảm. Loài voi sống trong một mạng lưới tương đối phức tạp, mà ở đó sự chia sẻ và giúp đỡ những con vật khác có ý nghĩa quan trọng đối với sự sống còn. Đó có thể là một xã hội mà khả năng làm theo những cử chỉ sẽ giúp chúng thích ứng với cuộc sống, hoặc xã hội loài voi đã lựa chọn một khả năng để hiểu được những cử chỉ của các loài khác trong khi giao tiếp với chúng.

Phân mối giúp mối chống lại chất độc

Khám phá những bí ẩn trong thế giới động vật (Phần II)

Mối là một loài côn trùng có họ hàng gần với gián. Và chúng cũng không được yêu thích hơn loài gián bao nhiêu khi hàng năm khả năng “ăn gỗ” của chúng gây nhiều thiệt hại cho con người. Chúng có hại đối với các công trình xây dựng, thậm chí nhiều vật dụng quan trọng của con người. Sức ăn của đàn mối có thể phá hoại nhà cửa, đê diều, hồ chứa nước, thuyền bè, cầu cống…, thậm chí tiêu hủy nhiều tài liệu thư viện quý giá… Do cuộc sống bầy đàn với số lượng thành viên cực lớn, để chống lại tác hại của mối, không thể chỉ nhắm vào từng cá nhân đơn lẻ. Theo một thống kê, hàng năm thế giới của chúng ta tốn tới ơn 40 tỉ USD để tiêu diệt mối. Một nghiên cứu mới đã khám phá ra được lý do vì sao mối miễn dịch với hàng loạt các vũ khí sinh học và chúng rất khó để tiêu diệt.

Các nhà khoa học sử dụng một loài nấm có tên là Metarhizium anisopliae chuyên dùng để tiêu diệt côn trùng cho vào lãnh thổ của loài mối. Tuy nhiên chúng toàn toàn miễn nhiễm. Loài mối có một thói quen khá “kinh dị” là sử dụng chính phân của mình để xây tổ. Và sau khi nghiên cứu, các nhà khoa học đã thấy rằng chính thói quen đó lại giúp cho loài mối chống lại được rất nhiều các tác nhân sinh học. Trong phân của chúng có một loại chất tên là actinobacteria giúp phân giải nhiều chất độc đối với mối. Phát hiện mới mẻ này trong tương lai sẽ hỗ trợ chúng ta trong lĩnh vực y tế cũng như giúp có những phương pháp diệt mối hiệu quả hơn.

Làm sao để gà biết rằng lúc nào trời sáng ?

Khám phá những bí ẩn trong thế giới động vật (Phần II)

Từ xưa đến nay, trong các câu chuyện cổ tích, phim ảnh cho tới chính đời thực, loài gà luôn được mệnh danh là chiếc đồng hồ báo thức cơ bản nhất trên thế giới. Tuy nhiên trước đây việc loài động vật này làm thế nào có thể “báo thức” chuẩn vào một khoáng thời gian cố định – rạng sáng lại chưa có câu trả lời. Một nhóm các nhà nghiên cứu thuộc đại học Nagoya đã quyết định vào cuộc để có được câu trả lời. Họ tiến hành lấy một số gà trống và chia ra làm bốn nhóm riêng biệt. Mỗi nhóm được đặt riêng biệt và tiếp xúc với ánh sáng 12 tiếng một ngày nhưng ở các thời điểm lộn xộn không giống nhau.

Trong điều kiện bóng tối, gà trống gáy 2-3 tiếng trước khi có ánh sáng xuất hiện. Chúng vẫn gáy vào buổi sáng không cần bất cứ tác động nào từ bên ngoài. Các nhà nghiên cứu cũng để gà trống trong ánh sáng lờ mờ liên tục trong 2 tuần và nhận thấy chúng vẫn tiếp tục gáy vào cùng một thời điểm trong ngày.

Nghiên cứu cũng khám phá những gì xảy ra khi gà trống được kích thích bằng ánh sáng huỳnh quang, hay âm thanh ghi lại của tiếng gáy của gà trống khác. Âm lượng của tiếng gáy phụ thuộc vào thời gian. Tiếng gáy chủ yếu xuất hiện vào buổi sáng. Tiến sĩ Takashi Yoshimura – người phụ trách nghiên cứu cho biết phát hiện này cho thấy đồng hồ sinh học điều chỉnh không chỉ khi một con gà trống cất tiếng gáy, mà còn điều chỉnh cả độ nhạy cảm của chúng với tác động bên ngoài.

Vậy là có vẻ như trời đã cho những chú gà có được năng lực “siêu phàm” này

Cá heo sử dụng tên riêng với đồng loại

Khám phá những bí ẩn trong thế giới động vật (Phần II)

Tất nhiên là những chú cá heo có trong công viên, khu bảo tồn vẫn thường được con người đánh dấu và đặt tên riêng. Tuy nhiên vấn đề ở đây không phải là con người chúng ta gọi chúng là Bob, Flipper hay gì khác mà là bản thân chúng có tên riêng của cá heo với nhau. Thêm vào đó, chúng còn có khả năng sử dụng những tiếng kêu đặc trưng riêng để gọi nhau. Đây là kết quả từ một nghiên cứu của Đại Học St Andrew.

Tiến sỹ Vincent Janik thuộc Nhóm Nghiên cứu Động vật có vú trên biển của trường đại học này cho biết để thực hiện nghiên cứu này, các nhà khoa học đã ghi lại âm thanh gọi tên của từng con trong một nhóm cá heo xám hoang dã. Sau đó họ dùng loa bố trí dưới nước để phát lại những tiếng kêu này. Ông giải thích: “Chúng tôi phát những tiếng huýt gọi tên của những con trong nhóm, chúng tôi cũng phát những tiếng huýt khác của chúng và tiếng huýt gọi tên của các loài khác, những loài vật mà chúng chưa từng thấy trước đây”. Kết quả là các cá thể này chỉ đáp lại tiếng gọi của chính mình bằng cách phát ra tiếng huýt trả lời. Đây là lần đầu tiên các nhà khoa học phát hiện ra rằng cá heo biết trả lời khi được gọi bằng tên. Các nghiên cứu trước đây cho thấy những tiếng gọi này được cá heo sử dụng thường xuyên, và những con cá heo trong cùng một nhóm có thể học và bắt chước các âm thanh lạ.

Thông thường loài cá heo sống trong môi trường ba chiều ngoài khơi và không có bất cứ vật chuẩn nào, thế nên chúng cần ở cạnh nhau thành từng nhóm. Phần lớn thời gian cá heo không nhìn thấy nhau và chúng cũng không thể ngửi được mùi trong nước biển. Từ lý do đó chúng cần một hệ thống liên lạc hiệu quả như việc gọi tên này.

Chuột cho thấy nỗi sợ có thể di truyền

Khám phá những bí ẩn trong thế giới động vật (Phần II)

Các nhà khoa học đã tìm ra rằng rất có thể nỗi sợ có thể di truyền từ đời cha sang đời con và những kẻ đầu tiên chứng minh cho điều này là loài chuột. Nghiên cứu này được bắt đầu khi nhà khoa học thuộc trường Đại học Emory – Kerry Ressler tiếp xúc với người nghèotrong thành phố. Ông nhận thấy trẻ em dường như được kế thừa các vấn đề từ thói quen lạm dụng thuốc tới những chấn thương tâm lý từ phụ huynh. Ông nghi ngờ rằng đây là vấn đề liên quan tới sinh học và tiến hành thí nghiệm. Theo Ressler và công sự – Brian Dias , trẻ em cũng tương tự như những chú chuột con có khả năng bị di truyền sự sợ hãi từ cha mẹ.

Thí nghiệm trên chuột cho thấy có thể cấy những ký ức sợ hãi vào não chuột, và những ký ức này được sắp xếp để liên kết với một mùi hương cụ thể. Các chuyên gia đã cho chuột đực ngửi mùi acetophenone, giống hương hoa anh đào, trong lúc chích điện chúng. Kết quả là các đối tượng thể hiện sự sợ hãi mỗi khi hít phải mùi acetophenone. Không dừng lại ở đó, các chuyên gia bất ngờ phát hiện nỗi sợ đó có thể truyền sang các thế hệ sau thông qua các thay đổi hóa học ở tế bào tinh trùng của con đực. Sau đó, đời con và đời cháu của chuột đực sợ mùi acetophenone cũng có dấu hiệu tương tự. Sự di truyền này ắt hẳn đã được chuyển giao qua con đường tinh trùng, do chuột cha không được phép tiếp xúc với hậu duệ. Các cuộc thí nghiệm sau đó, bao gồm thụ tinh nhân tạo phôi chuột bằng kỹ thuật IVF, đã xác nhận nỗi sợ hãi nhiều khả năng được truyền qua tinh trùng của chuột. Cơ chế di truyền đặc biệt này đã diễn ra dưới dạng thay đổi biểu sinh ở protein bao quanh ADN của tế bào tinh trùng. Chuột cái được đưa vào tình trạng sợ acetophenone dường như cũng truyền “ký ức” đó cho thế hệ kế tiếp mặc dù các dấu hiệu biểu sinh trên trứng chúng vẫn chưa được phân tích. Từ đây các chuyên gia liên hệ tới tình trạng di truyền sự sợ hãi cũng có thể diễn ra tương tự ở người.

Kết quả của nghiên cứu nói trên đã gây tiếng vang lớn trong dư luận nói chung và giới khoa học nói riêng. Đối với con người tuy mọi thứ có thể phức tạp hơn nhưng rõ ràng khả năng di truyền nỗi sợ như loài chuột là rất cao. Rất nhiều các nghiên cứu chuyên sâu hơn đang được thúc đẩy để chúng ta có thể có được câu trả lời sớm nhất.