[Discovery] Lensbaby giới thiệu ống kính mắt cá siêu rộng 5.8mm

Screen Shot 2014-11-27 at 1.33.33 PM.

Lensbaby là hãng chuyên sản xuất ống kính cùng tên “Lensbaby” – một loại ống kính đặc biệt trong nhiếp ảnh nói chung. Nhưng lần này, họ giới thiệu ống kính Fisheye góc siêu rộng. Đó là chiếc Circular Fisheye 5.8mm có góc nhìn rộng 185 độ, cho các hệ ngàm máy ảnh Sony A và E, Micro Four Thirds, Samsung NX, Pentax K, Canon EF và Nikon F. Với góc nhìn rộng 185 độ, ống kính này có thể thấy cả một phần phía sau máy ảnh, và khung hình Circular do ống kính tạo ra là một khung ảnh tròn.

Thông số kỹ thuật ống kính Lensbaby Circular Fisheye:

  • Tiêu cự 5.8mm
  • Góc nhìn 185º
  • Khẩu độ f/3.5 – 22
  • Lấy nét tay (Manuel)
  • Các ngàm Sony A và E, Micro Four Thirds, Samsung NX, Pentax K, Canon EF và Nikon F
  • Giá công bố trên Lensbaby.com: 300 USD

Screen Shot 2014-11-27 at 1.33.53 PM.
Nói về ống kính Fisheye – thường gọi là ống kính mắt cá – là một loại ống kính có cấu trúc thấu kính đặc biệt nhằm mang lại hiệu ứng hìn ảnh lạ và tương tự như mắt cá nhìn trong môi trường nước. Ban đầu, loại ống kính này được sản xuất dành riêng phục vụ công việc nghiên cứu lãnh vực thiên văn khí tượng. Các chuyên gia sử dụng ống kính này chụp lại hình ảnh bầu trời, hình ảnh của quá trình hình thành ngưng tụ hơi nước trong bầu khí quyển … và họ gọi là “ống kính của bầu trời”. Về sau, khi nhiếp ảnh phát triển rộng, loại ống kính này nhanh chóng được sử dụng phổ biến trong giới nhiếp ảnh. Nhiều người thích và tìm mua loại ống kính này ráo riết, trong đó một số vì nhu cầu sáng tác ảnh trong công việc, một số vì vui thích với hiệu ứng lạ của loại ống kính này. Hơn nữa, fisheye cũng được sử dụng như một ống kính trong bộ ống kính góc rộng của người chụp ảnh, dễ dàng chụp sáng tạo những khoảnh khắc bất ngờ.

Một số ảnh “sample” do hãng Lensbaby giới thiệu:
CFE_CraigStrong-01.CFE_ElkeVogelsang-01.CFE_KeithNovosel-01.CFE_NunoCaldeira-01.CFE_MarkToal_Mirrorless-01.CFE_NancyBalluck-01.Screen Shot 2014-11-27 at 1.34.51 PM.Screen Shot 2014-11-27 at 1.35.17 PM.

Nguồn: Lensbaby

[Discovery] Vì sao trung bình mỗi bài hát nhạc pop thường có thời lượng khoảng 3 phút?

banner-2.

Âm nhạc là một phần không thể thiếu của cuộc sống của mỗi người. Tuy nhiên, có một điều khá thú vị mà chúng ta ít khi chú ý là trung bình, mỗi bài hát nhạc pop thường có độ dài khoảng 3 phút và không hơn 4 phút. Điển hình như top 3 bảng xếp hạng tuần này (22/11), các ca khúc “Shake It Off” của Taylor Swift (3:39 phút), “All About that Bass” của Meghan Trainor (3:08 phút) và “Animal” của Maroon 5 (3:49 phút). Tất cả đều có độ dài tuân theo giới hạn trên. Tại sao vậy? Đó là một giới hạn mang tính lịch sử của ngành công nghiệp âm nhạc đồng thời cũng có liên quan đến thị hiếu và sức hấp dẫn người nghe. Hãy cùng ngược dòng lịch sử để tìm câu trả lời nhé.

1 bản single thuở ban đầu

vinyl.

Vào đầu những năm 1900, đĩa than 10 inch là cách phổ biến nhất để phát hành các bản thu âm. Đĩa 10 inch thường được chơi với tốc độ 78 vòng/phút. Khi ghi âm, người ta dùng một chiếc kèn kim loại kích thước lớn để “gom” âm thanh lại thành áp suất lớn để kim ghi ghi lên mặt đĩa. Ngược lại lúc phát thanh, người ta quay ngược chiếc kèn lại để khuếch đại âm thanh. Những chiếc đĩa 10 inch vào thời bấy giờ chỉ có hể chứa được âm thanh có thời lượng từ 3 đến 5 phút cho mỗi mặt.

Tiếp theo đó là sự ra đời của đĩa 12″ nhưng cũng chỉ có thể chứa bài hát có thời lượng từ 4 đến 5 phút. Theo Thomas Tierney, giám đốc thư viện lưu trữ âm thanh của Sony Music thì: “Nếu như ghi thời lượng nhiều hơn, các rãnh sẽ sát nhau hơn và kết quả là chất lượng âm thanh sẽ giảm sút.” Đây chính là giới hạn về công nghệ mà các nghệ sĩ đầu thế kỷ 20 phải đối mặt. Do đó, họ phải cố gắng giới hạn bài hát của họ càng ngắn càng tốt nếu muốn single của họ được phát hành.

Bài hát You’ve Lost That Lovin’ Feelin’ của The Righteous Brothers phải đóng dấu thời lượng giả là 3:05 thay vì 3:45 để có thể được phát sóng radio

Mặt khác, 1 single ngắn cũng có thể phát trên sóng radio và sẽ trở thành 1 bài hát hot. Thời điểm bấy giờ, sóng radio là công cụ truyền thông xã hội chủ yếu để các nghệ sĩ có thể phát hành ca khúc của họ đến mọi người. Tierney cho biết thêm: “Vào thời đó, nếu bạn ghi âm một bài hát dài hơn 3 phút 15 giây, người ra sẽ không muốn phát sóng nó.” Dĩ nhiên là cũng có các trường hợp ngoại lệ, như đối với các thể loại đặc thù như jazz hoặc cổ điển thì họ có thể ghi âm dài hơn, nhưng nhạc pop thì đều tuân theo quy định này.

Sự thành công của các bài hát dài mở đầu bởi nghệ sĩ Bob Dyland

1414672781_Bob Dylan 1.
Nghệ sĩ nổi tiếng Bob Dylan, người mở đầu cho phong trào single dài

Dù ngày nay, giới hạn thời lượng bài hát phát sóng radio không còn nữa, nhưng các bài hát nhạc pop hiện đại vẫn gắn liền với thời lượng 3-4 phút. Tuy nhiên, ngay từ những năm 60 thì nghệ sĩ Bob Dylan đã phá vỡ quy chuẩn này. Không giống như nhạc pop, các ca sĩ nhạc dân gian thập niên 60 thường thu âm những bài hát dài. Họ không quan tâm việc bài hát của họ có được nằm trong top 40 trong bảng xếp hạng hay không. Cái họ hướng đến là số lượng album mà họ bán ra ngoài thị trường.

Vào năm 1965, Bob Dyland đã trở thành một nghệ sĩ nổi danh với các single để đời như “The Times They Are A-Changin” và “Subterranean Homesick Blues” đã mang về cho ông vị trí 39 trên bảng xếp hạng 40. Và khi đó, ông đã cho ra mắt album “Highway 61 Revisited” với ca khúc mở đầu “Like A Rolling Stone” dài 6:34 phút, đây là bản thu được cho là chống lại toàn bộ các khuôn mẫu đương thời cho một đĩa đơn nhạc pop.

Bài hát “Like A Rolling Stone” của nghệ sĩ Bob Dylan, tạo nên một bước ngoặt mới trong nền công nghiệp âm nhạc

Ban đầu, nhà phát hành Columbia Records đã không muốn ra mắt bài hát này dưới dạng single bởi nó không phù hợp với các quy chuẩn thông thường. Tuy nhiên, 1 nhân viên tại đây là Shaun Considine đã mạnh dạn công bố bài hát ra công chúng và tạo nên một cơn sốt chưa từng có, mang về cho Bob Dylan vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng tại Mỹ và thứ 4 tại Anh.

Nhạc Rock dần thay đổi, nhạc pop vẫn giữ nguyên

taylor.
Ảnh minh họa nữ ca sĩ Taylor Swift thường thống trị bảng xếp hạng

Thành công của Bob Dyland đã tiếp thêm sức mạnh để các nghệ sĩ mạnh dạn sáng tác các ca khúc với thời lượng dài hơn thay vì bị gò bó trong giới hạn truyền thống của đĩa đơn. Nhóm nhạc rock Iron Butterfly đã thu bài hát dài 17 phút “In-A-Gadda-Da-Vida” và cắt nó ra thành nhiều đoạn để phát sóng trên radio. Dù vậy, các thính giả dần quen thuộc và thích nghe các bài hát dài hơn. Một ví dụ khác như Stairway to Heaven của Led Zeppelin với độ dài 8:02 phút, dù không phát hành single nhưng vẫn trở thành một huyền thoại.

Stairway to Heaven của Led Zeppelin với độ dài 8:02 phút, bài hát dài đã trở nên huyền thoại dù không phát hành dưới dạng single

Nếu như các bài hát phá vỡ quy cách 3-4 phút đều rất thành công thì tại sao thế giới nhạc pop vẫn còn gắn bó với giới hạn này? Đó là do thói quen đã được hình thành cố hữu trong lòng các fan hâm mộ. Họ không chỉ muốn mua các album của ca sĩ thần tượng mà còn muốn chờ đợi từng single của các ca sĩ khác. Khi đó, họ sẽ thưởng thức, đánh giá và chuyển sang một single khác thay vì nghe mãi 1 album của ca sĩ nào đó.

Mặt khác, tín đồ nhạc pop thường là những người trẻ tuổi, họ muốn nhanh chóng nghe 1 bài hát đơn của 1 ca sĩ, sau đó chuyển sang 1 bài hát khác. 1 bài hát dài sẽ chỉ là giảm mức độ tập trung của những người nghe trẻ tuổi này. Chính vì thị hiệu cố hữu của các thính giả, các ca sĩ nhạc pop vẫn có xu hướng muốn phát hàng single hơn là ra mắt album. Và một khi họ phát hành single thì quy chuẩn về giới hạn 3-4 vẫn còn được áp dụng cho đến ngày nay.

[Discovery] “Ăn uống ngủ nghỉ” trên vũ trụ khác ở Trái đất thế nào

Những cuộc du hành vũ trụ luôn là đề tài nóng hổi được đưa lên màn ảnh hay ấn phẩm báo chí bán chạy hàng đầu trên thế giới.

Hẳn bạn đã từng xem rất nhiều hình ảnh về các phi hành gia lơ lửng trong cabin, ăn những món ăn trong các tuýp nhỏ như kem đánh răng, nước uống lơ lửng dưới dạng các khối cầu? Và bạn luôn đinh ninh rằng, đó là cuộc sống của các phi hành gia ngoài không gian.

Tuy nhiên, những chia sẻ dưới đây của nữ phi hành gia Marsha Ivins sẽ cho bạn thấy góc khác của cuộc sống trong ngoài không gian.

Khi tàu vũ trụ cất cánh…

Sẽ không có gì có thể ngăn lại những cảm xúc dâng trào trong bạn khi rời xa Trái đất . Việc đầu tiên chắc chắn bạn sẽ làm khi tàu vũ trụ được phóng lên, đó là ngoái nhìn Trái đất qua ô cửa sổ. Hẳn một cảm giác hồi hộp và nghẹn ngào sẽ bao trùm lên bạn.

Ăn uống ngủ nghỉ trên vũ trụ khác ở Trái đất thế nào 1
Khoảnh khắc tàu vũ trụ được phóng lên từ mặt đất…

Lần đầu tiên trên tàu vũ trụ, bạn sẽ có cảm giác lo lắng và hơi “bấn loạn”. Sẽ mất khoảng 2 tiếng đồng hồ cho công tác chuẩn bị cất cánh và bạn sẽ chẳng biết phải làm gì trong khoảng thời gian đó.

Ăn uống ngủ nghỉ trên vũ trụ khác ở Trái đất thế nào 2
… là giây phút đặc biệt xúc động đến mức lẫn lộn và có phần “bấn loạn”

Những người có chức vụ được yêu cầu phải báo cáo tình trạng trên tàu, còn các phi hành gia còn lại sẽ giết thời gian bằng cách… đi ngủ.

Cuộc sống mới ngoài không gian…

Sau khi cất cánh, với một tàu con thoi của NASA sẽ chỉ mất khoảng 8,5phút để được đưa vào quỹ đạo bay. Vận tốc tối đa của chúng đạt được khi ấy là hơn 28.000 km/h. Khi tàu đã ở trong quỹ đạo cũng là lúc môi trường không trọng lực được kích hoạt.

Ăn uống ngủ nghỉ trên vũ trụ khác ở Trái đất thế nào 3

Sẽ có một số hiện tượng thú vị xảy ra lúc này trong môi trường không có trọng lực. Một mặt, chất lỏng trong cơ thể có xu hướng di chuyển lên phía trên đầu, do đó da mặt bạn sẽ được bơm căng như bóng bay.

Ăn uống ngủ nghỉ trên vũ trụ khác ở Trái đất thế nào 4

Mặt khác, chiều cao của bạn sẽ được cải thiện đến 5cm trong khi dạ dày lép kẹp và co lại. Tuy nhiên, điều này cũng không có nhiều ý nghĩa bởi tất cả những người trong tàu con thoi cũng đều cao lên như vậy!

Tuy nhiên, việc chất lỏng trong cơ thể dồn lên phần thân trên sẽ gây ra những cơn đau đầu liên tục. Thông thường, các phi hành gia sẽ mất vài ngày mới hết hoàn toàn các cơn đau. Cơ thể họ điều chỉnh lại lượng chất lỏng này sau những lần… đi tiểu.

Ăn uống ngủ nghỉ trên vũ trụ khác ở Trái đất thế nào 5
Hầu như mọi bộ phận trên cơ thể đều gặp vấn đề khi phải thích nghi với điều kiện môi trường không trọng lực

Bên cạnh đó, việc không có trọng lực sẽ làm bạn cảm thấy mất phương hướng, chóng mặt và buồn nôn.

Để đối phó với hiện tượng này, phi hành gia phải bình tĩnh và cố gắng giúp hệ thống thị giác định vị được đâu là phía trên, đâu là phía dưới. Ngoài ra, dạ dày của họ cũng cần một vài ngày để có thể ổn định và bắt đầu có cảm giác thèm ăn.

Việc ăn uống ngoài vũ trụ tất yếu dẫn đến sự khác biệt trong mùi vị các món ăn. Ví dụ khi ăn một thanh chocolate sữa bạn sẽ cảm thấy có mùi vị như… sáp.

Phi hành gia cũng không thể tự nấu nướng trong tàu con thoi hay trong các trạm vũ trụ. Thực phẩm của họ sẽ được nấu sẵn và được bảo quản đặc biệt dưới dạng khô. Mỗi khi muốn ăn, họ phải cho thêm một chút nước rồi làm nóng bằng lò vi sóng.

Ăn uống ngủ nghỉ trên vũ trụ khác ở Trái đất thế nào 6

Một trong những trải nghiệm kỳ lạ nữa đó là việc ngủ ngoài Trái đất. Trong môi trường không trọng lực, bạn có thể ngủ tại bất cứ nơi đâu: trên sàn, trên trần hay trên tường.

Thông thường, các phi hành gia sử dụng những chiếc túi ngủ đặc biệt, giúp họ không bị trôi nổi khi đang say giấc.

Ăn uống ngủ nghỉ trên vũ trụ khác ở Trái đất thế nào 7
Không gian ngủ khá chật chội…

Vị trí ngủ lý tưởng trên tàu vũ trụ chính là bên cạnh cửa sổ. Lý do là bởi, hình ảnh đầu tiên khi tỉnh dậy sẽ chính là toàn cảnh Trái đất nhìn từ trên cao. Đặc biệt, từ ngoài không gian, mỗi ngày phi hành gia có thể ngắm tới 16 lần Mặt trời mọc.

Ăn uống ngủ nghỉ trên vũ trụ khác ở Trái đất thế nào 8
… nhưng ngày nào cũng có cơ hội thưởng thức khung cảnh tuyệt đẹp này!

Trong khi đó, đuôi tàu là địa điểm ngủ khắc nghiệt nhất. Nhiệt độ ở đây luôn chỉ vào khoảng 20 độ C. Vì vậy, họ sẽ mặc ít nhất 4 lớp áo, dùng đồ ăn làm nóng qua lò vi sóng làm túi sưởi trước khi chui vào túi ngủ tại khu vực này.

Ăn uống ngủ nghỉ trên vũ trụ khác ở Trái đất thế nào 9
Trở lại mặt đất…

Sau khi hoàn thành mọi nhiệm vụ ngoài không gian, các phi hành gia sẽ trở về Trái đất. Tuy nhiên, cảm giác trở về này không dễ chịu như mọi người vẫn nghĩ.

Ăn uống ngủ nghỉ trên vũ trụ khác ở Trái đất thế nào 10

Sau khi đáp xuống Trái đất, sẽ có rất nhiều khó khăn trong việc di chuyển chờ đón bạn. Đầu tiên, bạn phải cố gắng tái lập sự cân bằng cơ thể.

Việc ngoái đầu sang hai bên cũng có thể khiến bạn ngã về phía sau. Những cơ bắp đã “ngủ quên” trong suốt chuyến hành trình trên vũ trụ sẽ phải mất nhiều ngày, thậm chí cả tuần, để có thể hoạt động trở lại. Trong suốt thời gian đó, bạn rất khó có thể làm các công việc trong sinh hoạt hàng ngày.

Ăn uống ngủ nghỉ trên vũ trụ khác ở Trái đất thế nào 11
Sẽ mất vài ngày để vượt qua thói quen ăn trên trời như thế này trên mặt đất

Bên cạnh đó, việc ở trong vũ trụ quá lâu khiến tai trong của phi hành gia trở nên rất nhạy cảm. Quá trình thích ứng lại với môi trường có trọng lực ở Trái đất có thể tiêu tốn của phi hành gia tới vài ngày.

Ăn uống ngủ nghỉ trên vũ trụ khác ở Trái đất thế nào 12

Một chuyến đi vào không gian luôn có những điều thú vị, nhưng bên cạnh đó cũng có một số vấn đề khiến bạn cảm thấy khó ở trong một thời gian.

Tuy nhiên có một điều chắc chắn rằng những trải nghiệm mà bạn đã có trong vũ trụ sẽ là những thứ mà bạn sẽ không bao giờ có thể quên.

Bài viết dựa theo chia sẻ của nữ phi hành gia Marsha Ivins đăng trên trang web Wired.com. Cô làm việc cho NASA và đã ở trên vũ trụ tổng cộng 55 ngày trong sự nghiệp của mình.

Theo Trí thức trẻ

[Discovery] Kiến trúc HSA (Heterogenous System Architecture) là gì và nó có lợi ích như thế nào cho CPU/GPU?

Kien_truc_HSA_AMD_APU.

Trong thời gian gần đây AMD khá chú trọng đến một công nghệ điện toán mới mà hãng gọi là Heterogenous System Architecture (HSA, tạm dịch: kiến trúc hệ thống hỗn tạp). Đây sẽ là kiến trúc được AMD áp dụng trên nhiều vi xử lý của hãng trong tương lai, bắt đầu với SoC hiệu năng cao Carizzo sắp bán ra vào năm sau. AMD hứa hẹn con chip này sẽ mang lại hiệu năng cao cũng như hiệu quả sử dụng năng lượng tốt nhờ tận dụng một cách đầy đủ GPU tích hợp. Nhưng không chỉ có một mình AMD, công nghệ HSA thực chất được phát triển bởi cả một hiệp hội do AMD và ARM dẫn đầu, bên cạnh đó là nhiều tên tuổi lớn như Samsung, LG, Sony, Qualcomm, ST Ericsson, MediaTek, Texas Instruments… Vậy HSA là gì và nó mang lại lợi ích gì cho người dùng? Mời các bạn cùng tìm hiểu thông qua bài viết này.

Những thách thức trong thế giới điện toán hiện nay

Lĩnh vực điện toán hiện đang đi vào một giai đoạn khó khăn, nơi mà bất kì công ty nào muốn đi đầu với một công nghệ mới đều phải cẩn thận xem xét đến nhiều sự hi sinh. Một trong số đó là vấn đề liên quan đến năng lượng tiêu thụ. Người tiêu dùng muốn thiết bị của họ có thời lượng pin dài hơn trong khi kích cỡ máy thì càng ngày càng nhỏ lại, smartphone, tablet và laptop cũng càng lúc càng mỏng và nhẹ hơn. Nhìn ở mức cao hơn một chút, các trung tâm dữ liệu cũng đòi hỏi việc tiêu thụ năng lượng phải hiệu quả hơn trong bối cảnh chi phí làm mát và chi phí cấp điện đang gia tăng.

Cùng lúc đó, người dùng cũng muốn có được những trải nghiệm tốt hơn và mới mẻ hơn. Chúng ta muốn truy cập thiết bị của mình thông qua những giao diện tự nhiên hơn như cử chỉ và giọng nói, chúng ta cũng muốn những thiết bị đó phải quản lý được lượng dữ liệu ngày càng lớn dần (chẳng hạn như những bức ảnh chụp khi đi du lịch, các bộ phim giải trí, và cả một thế giới nội dung phong phú khác đang nằm trên “mây”).

Và để mang lại được những trải nghiệm như vậy, vai trò của lập trình viên là một điều không thể bỏ qua. Mọi thứ phải thật dễ dàng để giúp lập trình viên khai thác được tính năng mới của các công nghệ hiện đại bằng cách sử dụng những mô hình lập trình quen thuộc và mạnh mẽ.

CPU_GPU_so_sanh.JPG

Cuối cùng, việc phần mềm có thể chạy được trên nhiều nền tảng càng ngày càng trở nên cần thiết hơn. Đã qua rồi cái thời thiết bị điện toán duy nhất mà mỗi cá nhân có thể sở hữu chỉ là chiếc máy tính. Giờ đây những thiết bị điện toán có mặt ở khắp mọi nơi, và mỗi người có thể có đến vài ba cái máy tính, điện thoại, máy tính. Bạn hãy thử tưởng tượng nếu một app quan trọng có mặt trên Android nhưng lại thiếu vắng trên iOS, Windows hay OS X thì sức cạnh tranh của nó sẽ như thế nào so với một app tương đương nhưng có đủ phiên bản cho các hệ điều hành phổ biến?

Để giải quyết những thách thức phức tạp nêu trên, cả ngành công nghiệp cần một cách tiếp cận khác – một cách tiện cận hiệu quả hơn đối với kiến trúc điện toán. Chúng ta cần một phương thức có thể mang lại sự cải thiện trên cả 4 mặt: năng lượng, hiệu năng, khả năng lập trình và tính di động.

Kiến trúc HSA

Kể từ những ngày đầu ra đời, những chiếc máy tính đã sở hữu một bộ vi xử lý trung tâm (CPU) được thiết kế để chạy tốt những tác vụ chung chung. Tuy nhiên, trong vài thập kỉ gần đây các thiết bị điện toán cá nhân, kể cả tablet hay smartphone, lại được tích hợp thêm các loại bộ xử lý khác, và bộ xử lý đồ họa (GPU) là một trong số đó. GPU được tạo ra để đảm đương những tác vụ tính toán song song với CPU. Theo thời gian, GPU càng ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn và phổ biến hơn, từ đó cho phép người ta sử dụng GPU như một giải pháp tính toán tăng cường cho CPU chứ không chỉ để xử lý đồ họa.

Vấn đề đó là CPU và GPU hiện nay được thiết kế như các thành phần độc lập và chúng không phối hợp hoạt động với nhau thật hiệu quả, thậm chí còn quá rắc rối đối với một số loại ứng dụng nhất định. CPU và GPU đều có bộ nhớ riêng của mình (CPU là RAM, GPU và vRAM), các hệ thống điện toán cũng cần có một ứng dụng để sao chép dữ liệu từ CPU sang cho GPU xử lý rồi lại chép ngược về CPU.

Chưa hết, bộ định thời của CPU và GPU hoàn toàn khác nhau khiến việc sắp xếp, quyết định thời gian chạy các chương trình cũng khác nhau. Điều đó tạo ra độ trễ và lượng dữ liệu dư thừa rất lớn, thế nên việc phối hợp giữa CPU và GPU chỉ đáng khi chạy những phần mềm nào cần đến một sức mạnh tính toán song song lớn.

Để khai thác tốt khả năng của các đơn vị tính toán song song trên GPU (parallel execution unit), điều cơ bản đó là các nhà thiết kế hệ thống phải suy nghĩ theo hướng khác. Họ phải tái cấu trúc lại hệ thống máy tính sao cho có thể tích hợp chặt chẽ nhiều thành phần tính toán khác nhau vào một nền tảng chung, trong khi vẫn phải mở ra một con đường dễ dàng và không cần nhiều thay đổi căn bản nhằm giúp lập trình viên tiếp cận nhanh hơn. Đây chính là mục tiêu chính của công nghệ HSA.

HSAAcceleratedProcessingUnit.

HSA tạo ra một một thiết kế vi xử lý tân tiến hơn với khả năng phối hợp cực tốt giữa các đơn vị tính toán trong hệ thống. Với HSA, các ứng dụng có thể khai thác một không gian địa chỉ chung (virtual address space), đồng thời được phép tạo ra những lệnh làm việc trên các phần cứng phù hợp nhất cho từng tác vụ khác nhau. Việc chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị tính toán, cụ thể hơn là giữa CPU và GPU, được đơn giản hóa đi rất nhiều. Chính khía cạnh này của HSA sẽ giúp lập trình viên viết phần mềm dễ hơn và nhanh hơn.

CPU và GPU cũng có thể thao tác trên cùng một vùng nhớ chung mà không làm cho dữ liệu mất đi tính thống nhất (coherence), cũng giống như những gì mà CPU đa nhân hiện nay có thể làm được. Bạn hãy tưởng tượng trong một chiếc máy tính mà cùng một dữ liệu đó nhưng CPU nhìn ra theo cách khác, còn GPU lại theo một cách khác thì sẽ như thế nào?

APU thế hệ mới của AMD và kiến trúc HSA 1.0

Kiểu kết hợp CPU và GPU vào chung trong một đế như cách mà AMD đang thực hiện trong SoC Carrizo không phải là mới. Hãng đã ra mắt những sản phẩm như thế nhiều năm nay và gọi chúng là APU (Accelerated Processing Unit). Giờ đây, với kiến trúc HSA phiên bản 1.0, AMD càng hoàn thiện hơn những con APU của mình về mặt hiệu năng, giảm độ trễ, tối ưu mức sử dụng năng lượng, đồng thời giúp lập trình viên dễ dàng hơn trong việc viết phần mềm. AMD muốn GPU phải hoạt động như là CPU, như vậy thì cách đối xử của phần mềm với các nhân xử lý nói chung sẽ thống nhất hơn.

Bên cạnh đó, HSA còn giúp tổ chức bộ nhớ tốt hơn vì giờ đây các ô nhớ của GPU hay CPU đều sử dụng chung một không gian địa chỉ ảo, nhờ vậy lập trình viên sẽ không gặp nhiều khó khăn trong việc di chuyển dữ liệu giữa các loại bộ nhớ khác nhau. Việc trao đổi dữ liệu giữa CPU và GPU sẽ nhanh hơn, ít lỗi, ít thành phần dư thừa hơn, và đây chính là một điểm khác biệt lớn so với của APU trước đây của chính AMD.
So_do_chung.
Nhìn tổng quan, chúng ta sẽ có những chiếc máy tính mạnh mẽ hơn (cả về mặt xử lý và đồ họa) và độ phản hồi tốt hơn, từ đó giúp giải quyết công việc nhanh hơn, chính xác hơn với chi phí thấp hơn. Hiệu quả sử dụng năng lượng của chip cũng được tăng cao nhờ các giải pháp do AMD phát triển. Nói cách khác, SoC Carrizo đã giúp giải quyết thách thức về thời lượng pin như đã nói ở trên.

Nhóm nhân sự chuyên về HSA của AMD đã phân tích sức mạnh của kiến trúc mới này bằng cách cho chạy Haar Face Detect, một thuật toán dùng để nhận biết gương mặt trong video. Nhóm đã so sánh việc sử dụng CPU/GPU kết hợp với tập lệnh OpenCL để xử lý hình ảnh rồi đối chiếu với những gì HSA có thể làm được. Kết quả đó là HSA chia sẻ dữ liệu rất tốt giữa CPU và GPU, dữ liệu không cần phải được copy và dọn dẹp giữa hai đơn vị tính toán (vì xài chung một bộ nhớ) nên các tác vụ được thực hiện với lượng dữ liệu thừa nhỏ nhất.

Hiệu năng của phiên bản HSA cũng cao hơn 2,3 lần trong khi mức tiêu thụ điện thì giảm 2,4 lần. Điều này không thể đạt được nếu chỉ dùng các CPU đa nhân, chỉ dùng GPU hay thậm chí kết hợp CPU và GPU theo mô hình hiện nay. Quan trọng hơn, phép thử nghiệm chỉ xài những phần mở rộng đơn giản cho ngôn ngữ C++ chứ không phải là một cách thức lập trình gì đó mới hoàn toàn nên việc tiếp cận không có gì là khó khăn. Đây chính là một ví dụ về cách mà HSA có thể mang lại một trải nghiệm tốt hơn cho người dùng.

Cấu hình hệ thống dùng thử nghiệm:

  • 4GB RAM; Windows 7 (64-bit); OpenCL 1.1
  • APU: AMD A10 4600M với GPU Radeon HD
  • CPU: 4 cores @ 2.3 MHz (turbo lên cao nhất là 3.2 GHz)
  • GPU: AMD Radeon HD 7660G, 6 đơn vị tính toán, xung nhịp 685MHz

AMD và lợi thế khi triển khai kiến trúc HSA

AMD có một vị trí rất độc đáo để đưa HSA vào thực tế bởi hãng có thể làm sản xuất CPU và GPU, còn NVIDIA thì không thể làm được chuyện đó. Kiến trúc GPU Maxwell mới của NVIDIA có hỗ trợ nhiều tính năng có thể dùng cho việc tính toán phức tạp (heterogeneous), nhưng bởi vì công ty không có CPU x86 của riêng mình nên hiệu quả mang lại không thể bằng như AMD. NVIDIA chỉ có thể khai thác heterogeneous trong mảng chip di động với những CPU ARM của họ, và hãng dự tính sẽ công bố tính năng đó trong người kế nhiệm của Tegra K1.

HSA_tom_luoc.

Intel cũng có thể đi theo con đường tương tự như AMD bởi giờ đây họ đã có thể làm cả CPU và GPU. Tuy nhiên, họ lại chọn một hướng khác: AMD làm APU để kết hợp CPU và GPU, còn Intel thì sản xuất CPU giá rẻ có khả năng hoạt động như là GPU. Co-processor Intel Xeon Phi đang bán trên thị trường hoạt động theo cùng cách này, nhưng nó chỉ có mặt trong server và siêu máy tính chứ không phải là những thiết bị tiêu dùng.

Hiệp hội HSA

Nếu chỉ một mình AMD thôi thì việc triển khai kiến trúc HSA sẽ rất khó. Mục tiêu của HSA còn là để giúp các nhà phát triển phần mềm chỉ cần viết app một lần và chạy trên nhiều nền tảng khác nhau, thế nên chỉ một công ty phần cứng đơn độc sẽ không thể biến giấc mơ này thật sự thật. Từ đây, Hiệp hội HSA (HSA Foundation) đã được thành lập như một cơ quan chịu trách nhiệm phát triển HSA và kiểm soát việc đưa kiến trúc này ra thị trường. Những thành viên tham gia sáng lập bao gồm AMD, ARM, Imagination Technologies, MediaTek, Texas Instruments, Samsung Electronics và Qualcomm, ngoài ra còn nhiều tên tuổi khác. Tất cả đều là những công ty lớn trong lĩnh vực chip nói riêng và điện toán nói chung nên thách thức về việc chạy ứng dụng đa nền tảng đã được giải quyết phần nào.

HSA.

Hiệp hội này cũng sẽ giúp các nhà thiết kế hệ thống tích hợp nhiều thành phần tính toán với nhau (chứ không chỉ riêng gì CPU và GPU) theo cách có thể loại bỏ được sự thiếu hiệu quả trong việc chia sẻ dữ liệu và công việc giữa các thành phần này. Thiết kế HSA cũng cho phép phần mềm khai thác được nhiều tính năng phần cứng thông qua một lớp chung gọi là HSA Intermediate Language (HSAIL). HSAIL sẽ biến giấc mơ “viết một lần, chạy khắp nơi” thành hiện thực bởi lập trình viên không phải tinh chỉnh mã nguồn của họ cho từng cấu hình CPU/GPU nữa.

Kết

Tất cả những gì mình muốn chia sẻ trong bài viết này đó là HSA sẽ là kiến trúc mới cho rất nhiều vi xử lý không chỉ do AMD sản xuất mà còn từ những thành viên khác trong Hiệp hội. Nó có thể mở ra một tương lai mới cho thiết bị điện toán, nơi mà chúng ta sẽ có những sản phẩm nhỏ hơn, nhẹ hơn, pin lâu hơn và mạnh mẽ hơn. Kéo theo đó là những trải nghiệm mới hơn, tốt hơn sẽ được mang đến cho người dùng. Lập trình viên thì có thể viết phần mềm của mình một cách đơn giản hơn và tận dụng CPU/GPU tốt hơn. Chúng ta hãy đợi đến khi con chip AMD Carrizo ra mắt vào năm sau để xem hiệu năng thực tế của nó sẽ như thế nào nhé.

Tóm tắt 6 lợi ích của HSA:

  1. Mang lại trải nghiệm người dùng tốt hơn
  2. Mang lại hiệu năng cao hơn trong cùng một kiểu dáng máy tính
  3. Thời gian dùng pin lâu hơn mà không phải hi sinh hiệu năng
  4. Việc lập trình phần mềm trở nên dễ dàng hơn
  5. Hỗ trợ cho các ngôn ngữ lập trình thông dụng như Python, C++ và Java
  6. Chi phí phát triển ứng dụng sẽ hạ thấp
Tham khảo: AMD (1), (2)

[Discovery] Top 10 dự án vũ trụ tốn kém nhất trong lịch sử NASA

Trước đây chúng ta chưa bao giờ nghĩ rằng con người có thể vươn ra ngoài vũ trụ bao la kia, tuy nhiên với sự phát triển của khoa học và công nghệ đã có rất nhiều những dự án nghiên cứu vũ trụ và đưa tàu thăm dò hay con người vào không gian. Tuy nhiên mỗi dự án như vậy phải trả cái giá rất đắt theo đúng nghĩa đen, mà không phải bất kỳ một quốc gia nào cũng đủ tài chính và công nghệ để thực hiện.

Trong những cơ quan nghiên cứu vũ trụ và không gian, có lẽ NASA là cơ quan nghiên cứu tiêu tốn nhiều tiền của nhất vào những dự án của mình. Bù lại những dự án của NASA luôn đem đến bước ngoặt lớn trong lịch sử ngành hàng không vũ trụ, như dự án tàu vũ trụ Apollo lần đầu tiên đưa con người lên Mặt trăng. Bên cạnh đó có những dự án vũ trụ của NASA tiêu tốn tới hàng trăm tỷ USD.

10. Dự án tàu vũ trụ Juno (1,1 tỷ USD)

Dự án tàu vũ trụ Juno được bắt đầu vào năm 2011 với nhiệm vụ thăm dò sao Mộc và dự kiến nó sẽ được phóng lên quỹ đạo sao Mộc vào năm 2016. Sau đó, tàu vũ trụ sẽ nghiên cứu các thành phần, trọng lực và từ trường trên hành tinh này. Nhiệm vụ này sẽ được kết thúc vào năm 2017, sau khi Juno du hành 33 vòng quanh quỹ đạo sao Mộc. Theo dự kiến ban đầu thì chi phí của dự án này vào khoảng 700 triệu USD, tuy nhiên tính cho đến nay con số này đã tăng lên 1,1 tỷ USD.

9. Dự án tàu thăm dò không người lái Galileo (1,4 tỷ USD)

Được đưa vào không gian bởi tàu Atlantis, tàu thăm dò không người lái Galileo có nhiệm vụ thăm dò sao Mộc bắt đầu từ năm 1995, trước dụ án Juno. Nhiệm vụ của Galileo là thu thập dự liệu từ sao Mộc và các mặt trăng của sao Mộc. Dự án được kéo dài đến năm 2000, sau khi tàu Galileo bị các bức xạ cực mạnh khiến nó hoạt động không ổn định và được lệnh phải đâm vào bề mặt sao Thổ để kết thúc. Trong suốt quãng thời gian của dự án, NASA đã phải chi khoảng 1,4 tỷ USD.

8. Dự án AMS-02 trên trạm ISS (2 tỷ USD)

AMS-02 (Alpha Magnetic Spectrometer) là một trong những thành phần đắt nhất trên Trạm vũ trụ quốc tế ISS. Hệ thống này có nhiệm vụ chứng minh sự tồn tại của vật chất tối trong vũ trụ thông qua việc thu thập và phân tích các tia vũ trụ. Được đưa lên trạm ISS từ năm 2011, cho đến nay AMS-02 đã phân tích dữ liệu của khoảng 18 tỷ tia vũ trụ. Theo ước tính ban đầu của NASA dự án này có chi phí khoảng 33 triệu USD, tuy nhiên do một số phát sinh về vấn đề kỹ thuật, số vốn đầu tư đã tăng lên tới 2 tỷ USD.

7. Dự án robot thăm dò sao Hỏa Curiosity (2,5 tỷ USD)

Phòng thí nghiệm Khoa học sao Hỏa của NASA chịu trách nhiệm trong dự án đưa robot thăm dò Curiosity lên bề mặt sao Hỏa vào tháng 6 năm 2012. Nhiệm vụ của robot thăm dò là thu thập các thông tin về bề mặt của sao Hỏa như thành phần địa chất, dấu hiệu của sự sống.

Cho đến nay, dự án này của NASA đã đem lại rất nhiều thông tin hữu ích về sao Hỏa cho các nhà khoa học phân tích. Dự án này có ngân sách tài trợ ban đầu là 650 triệu USD, tuy nhiên sau đó số vốn đầu tư đã tăng lên tới 2,5 tỷ USD.

6. Dự án Cassini–Huygens nghiên cứu sao Thổ (3,26 tỷ USD)

Dự án Cassini–Huygens của NASA nhằm nghiên cứu các hành tinh ở xa hệ Mặt Trời của chúng ta, mà trong đó chủ yếu là nghiên cứu sao Thổ. Tàu vũ trụ Cassini–Huygens được chế tạo thành công vào năm 1997 và đến năm 2004 nó đã đi vào quỹ đạo của sao Thổ. Bên cạnh nhiệm vụ bay xung quanh quỹ đạo sao Thổ để thu thập dữ liệu, Cassini–Huygens còn thả một tàu đổ bộ vào khí quyển của sao Thổ và hạ cánh trên mặt trăng Titan. Đây là một dự án có sự hợp tác giữa NASA và Cơ quan vũ trụ châu Âu với mức đầu tư lên tới 3,26 tỷ USD.

5. Kính viễn vọng không gian James Webb (8,8 tỷ USD)

Kính viễn vọng không gian James Webb là một dự án giúp các nhà khoa học có thể quan sát các ngôi sao ở rất xa chúng ta, mà kính viễn vọng thông thường trên Trái đất không thể làm được. Dự án này được bắt đầu từ năm 1996 và sẽ hoàn thành vào năm 2018. Vào năm 2011, dự án này đã từng đứng trước nguy cơ bị hủy bỏ do có nhiều vấn đề về ngân sách, vào thời điểm đó dự án James Webb đã tiêu tốn 3 tỷ USD. Tuy nhiên sau đó quốc hội Mỹ đã thay đổi kế hoạch và tăng cường ngân sách cho dự án. Ước tính dự án này sẽ mất khoảng 8,8 tỷ USD để hoàn thành.

4. Dự án Apollo (25,4 tỷ USD)

Dự án tàu không gian Apollo không chỉ đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử ngành hàng không vũ trụ, khi lần đầu tiên con người đặt chân lên Mặt trăng. Mà Apollo còn là một trong những dự án tốn kém nhất của NASA. Theo tính toán ban đầu của NASA báo cáo lên quốc hội Hoa Kỳ năm 1973 thì chi phí của toàn bộ dự án này có thể lên đến 170 tỷ USD, có điều chỉnh theo lạm phát. Tuy nhiên sau đó tổng thống Kennedy là người đã điều chỉnh lại dự án Apollo và sau đó Mỹ đã đưa thành công tàu vũ trụ Apollo 11 và ba phi hành gia lên Mặt trăng với chi phí 25,4 tỷ USD.

3. Trạm vũ trụ quốc tế ISS (160 tỷ USD)

Trạm vũ trụ quốc tế ISS là một dự án hợp tác giữa nhiều cơ quan vũ trụ khác nhau trên thế giới, tuy nhiên NASA vẫn đóng vai trò quan trọng nhất. Tính đến năm 2010, chi phí để xây dựng trạm ISS đã là 160 tỷ USD, con số này vẫn tiếp tục tăng khi có thêm những dự án bổ sung mới cho trạm vũ trụ này. Chỉ mỗi chuyến bay vận chuyển thiết bị lên trạm không gian này cũng đa tiêu tốn khoảng 1,4 tỷ USD. Trong dự án này, NASA đóng góp khoảng 59 tỷ USD.

2. Dự án tàu con thoi Space Shuttle (196 tỷ USD)

Được bắt đầu vào năm 1972, dự án Space Shuttle của NASA bao gồm 135 nhiệm vụ khác nhau, trong đó có 6 tàu con thoi đã được chế tạo và đưa vào sử dụng. Tuy nhiên 2 trong số các tàu con thoi này là Columbia và Challenger đã gặp tai nạn và làm 14 phi hành gia thiệt mạng. Tàu con thoi cuối cùng cất cánh là Atlantis vào năm 2001.

Tổng chi phí của toàn bộ dự án này là một con số khổng lồ, ước tính khoảng 196 tỷ USD khi dự án kết thúc vào năm 2011. Đây cũng là dự án tốn kém nhất trong lịch sử ngành hàng không vũ trụ từ trước tới nay.

1. Dự án Constellation (230 tỷ USD)

Đây là một dự án vô cùng đặc biệt của NASA vì nó chỉ nằm trên giấy tờ. Cựu tổng thống George W. Bush là người đã đưa ra ý tưởng cho dự án Constellation, với mục tiêu mở thuộc địa trên Mặt trăng và đưa tàu có người lái lên sao Hỏa. Theo ước tính của NASA thì dự án này có thể kéo dài đến năm 2025 và tốn khoảng 230 tỷ USD. Tuy nhiên sau đó dự án này đã bị hủy bỏ bởi tổng thống Obama. Ông Obama đã thực hiện chính sách mới đối với NASA, tập trung vào việc thương mại hóa lĩnh vực hàng không vũ trụ thay vì chỉ dựa vào chính phủ như trước đây. Như vậy trong tương lai tới, chúng ta sẽ thấy nhiều dự án vũ trụ đến từ các công ty tư nhân hơn.

Tham khảo: therichest

[Photograph] Những ảnh đoạt giải cuộc thi Ảnh Nghệ Thuật Vnexpress 2014

6 bức ảnh đã được chọn ra trong hơn 30,000 tấm hình được gửi về cho cuộc thi Ảnh Nghệ Thuật do Báo Vnexpress kết hợp với Bộ Văn hoá Thể thao Du lịch thực hiện. Một giải đặc biệt được chọn ra bất ngờ, tức là không có trong cơ cấu giải thưởng. Cuộc thi với hai chủ đề là Phong CảnhKhoảnh Khắc Cuộc Sống nhằm tìm kiếm những hình ảnh đẹp về đất nước, cuộc sống, con người Việt Nam. Mời anh em xem qua 6 ảnh đoạt giải, 1 ảnh đặc biệt và 8 giải khuyến khích.

Giải Đặc Biệt
a9-1412306123.

Thể loại Phong cảnh

1. Giải nhất: Thắng cảnh Gành đá đĩa – Huỳnh Lê Viễn Duy – Phú Yên
Nhất Phong cảnh- thang-canh-da-dia-1412073361-src.

2. Giải nhì: Làng gốm Vĩnh Long – Phạm Trí Nhân – Vĩnh Long
Nhì Phong cảnh Lang-gom-Vinh Long-1412083039-src.

3. Giải ba: Nghỉ ngơi – Phạm Văn Tỵ – TP HCM
Ba Phong cảnh- Nghỉ Ngơi.

Thể loại Khoảnh khắc Cuộc sống

1. Giải nhất: Nguyện cầu – Tô Công Vinh – Ninh Thuận
Nhất Khoảnh khắc - Nguyen-cau-1413010433.

2. Giải nhì: Thăm vó – Nguyễn Văn Dừa – Bến Tre
Nhì Khoảnh khắc- Thăm gió.

3. Giải ba: Nắng – Trịnh Việt Hùng – Thái Nguyên
Ba khoảnh khắc-Nang.

[Discovery] Lò phản ứng hồ quang của Iron Man hoạt động như thế nào

Khoa học viễn tưởng luôn đem đến cho chúng ta những ý tưởng táo bạo và vô cùng thú vị, tuy nhiên những ý tưởng này phần nào cũng dựa trên những điều thực tế. Lò phản ứng hồ quang mini, nguồn năng lượng đặc biệt của bộ giáp sắt Iron Man là một trong số những ý tưởng đó. Đó là một thiết bị được hư cấu trong truyện tranh và phim ảnh, tuy nhiên chúng ta đang đề cập đến những khía cạnh khoa học thực tế xung quanh nó. Vậy một thiết bị như lò phản ứng hồ quang mini trong bộ giáp sắt Iron Man hoạt động như thế nào, và liệu trong tương lai chúng ta có thể chế tạo ra những thiết bị tương tự như thế hay không?

Làm thế nào Arc Reactor của Iron Man (Có lẽ) Làm việc

Trước tiên chúng ta cần biết điều gì xảy ra bên trong một lò phản ứng hồ quang khiến cho nó có thể sản sinh ra năng lượng.

Làm thế nào Arc Reactor của Iron Man (Có lẽ) Làm việc

Lò phản ứng hồ quang trong bộ phim có kích thước khá lớn, thiết kế với một đường ống tròn.

Về cơ bản, chúng ta có thể thấy lò phản ứng hồ quang của công ty Stark giống như một hệ thống lò phản ứng nhiệt hạch tiêu chuẩn của dự án ITER ngoài đời thực. Khác với phản ứng hạt nhân (phản ứng phân hạch), mà ứng dụng trong nhà máy điện nguyên tử. Phản ứng nhiệt hạch (phản ứng hợp hạch) là quá trình tổng hợp hai nguyên tử thành một nguyên tử mới.

Làm thế nào Arc Reactor của Iron Man (Có lẽ) Làm việc

Mô hình lò phản ứng nhiệt hạch của dự án ITER trong thực tế.

Trên thực tế, các nhà khoa học kết hợp hai đồng vị của hydro là deuterium và tritium, ở mức năng lượng rất cao để tạo thành nguyên tử heli và một neutron tự do. Trong khi khối lượng của heli và neutron tự do này thấp hơn deuterium và tritium ban đầu, nên phần khối lượng mất đi được chuyển thành năng lượng, cụ thể là thông qua lượng nhiệt tỏa ra.

Dựa vào lý thuyết này, cũng như mô hình lò phản ứng nhiệt hạch thực tế, chúng ta có thể lý giải vì sao lò phản ứng hồ quang của Tony có thiết kế vòng tròn (giống chiếc bánh rán). Thiết kế này nhằm giữ các nguyên tử có thể chuyển động không ngừng ở bên trong và chúng có thể đạt vận tốc cực lớn, nhằm dẫn tới việc va chạm giữa các nguyên tử và khiến phản ứng xảy ra. Để có thể giữ các hạt này di chuyển theo hình vòng cùng, các nhà khoa học cần sử dụng tới một từ trường rất mạnh. Cũng vì vậy mà lò phản ứng nhiệt hạch có rất nhiều cuộn dây nam châm quấn bên ngoài, chúng ta cũng có thể thấy điều tương tự với lò phản ứng hồ quang trong phim.

Tuy nhiên có một điều cần lưu ý là năng lượng sinh ra bởi lò phản ứng nhiệt hạch là lượng nhiệt rất lớn, nó cần một hệ thống làm mát để các thiết bị không bị nung nóng chảy. Trong khi đó lò phản ứng hồ quang của Tony không có hệ thống này, nhưng trong phim chúng ta không thấy anh chàng này bị nướng cháy. Lý do là vì lò phản ứng hồ quang chuyển trực tiếp năng lượng thành hồ quang điện, mà không phải chuyển hóa thành nhiệt.

Làm thế nào Arc Reactor của Iron Man (Có lẽ) Làm việc

Bản thiết kế lò phản ứng hồ quang mini.

Vậy tại sao Tony có thể làm được điều này, chúng ta hãy quay lại bản thiết kế lò phản ứng hồ quang mini trong bộ giáp Iron Man. Dựa trên thông tin hư cấu trong phim thì lò phản ứng hồ quang mini bao gồm một lõi chứa palladium, các cuộn dây điện từ cuốn xung quanh một ống tròn, nó không phải vô hạn vì vậy cần một nguồn nhiên liệu nhất định.

Trên thực tế, palladium được nghiên cứu như một chất nền cho phản ứng nhiệt hạch ‘lạnh’ mà không giải phóng các plasma siêu nóng. Palladium có hai đồng vị đặc biệt là Pd-103 và Pd-107. Trong đó, đồng vị Pd-103 tạo ra Rh-103 (rhodium) thông qua quá trình va chạm và hấp thụ electron, thành phẩm là một neutron và một photon năng lượng – một tia gamma. Còn đồng vị Pd-107 tạo ra Ag-107 (bạc) qua quá trình phân rã giải phóng electron, đây là quá trình ngược lại ở trên.

Như vậy dựa trên những kiến thức thực tế này, lò phản ứng hồ quang sử dụng cốt lõi là Pd-107, còn trong ống tròn của lò phản ứng là các Pd-103 di chuyển với tốc độ rất cao (có thể nhờ nguồn năng lượng được nạp sẵn). Sau khi quá trình Pd-107 phân rã bắt đầu, các electron được giải phóng và tiếp tục di chuyển với tốc độ cao trong ống nhờ từ trường mà các cuộn dây tạo ra (như đã nói ở trên). Khi các electron này va chạm với Pd-103, quá trình xảy ra tạo ra rhodium và các tia gamma mang năng lượng cao. Các tia gamma này tiếp tục chiếu vào lõi Pd-107 bên trong và lại tạo ra các electron tự do mới, mà nhờ vậy quá trình này diễn ra một cách liên tục không ngừng.

Làm thế nào Arc Reactor của Iron Man (Có lẽ) Làm việc

Nguyên lý hoạt động của lò phản ứng hồ quang. Lõi là đồng vị Pd-107, đồng vị Pd-103 di chuyển ở vòng ngoài. Các hạt năng lượng electron di chuyển ra phía ngoài, tia gamma phản xạ lại vào trong lõi. Sự chênh lệch điện thế tạo ra dòng điện.

Vậy điện được tạo ra từ đâu? Chính từ sự chênh lệch điện tích electron giữa phần lõi và vòng tròn bên ngoài đã tạo ra một điện áp rất lớn, vì trong quá trình này lõi Pd-107 luôn giải phóng các electron ra vòng ngoài. Các đồng vị Pd-107 và Pd-103 chuyển dần thành Rh-103 và Ag-107 như đã nói ở trên và phản ứng sẽ dừng lại khi palladium đã được chuyển hóa hoàn toàn. Điều này lý giải vì sao Iron Man bá đạo vẫn có thể bị hết pin.

Như vậy chúng ta đã hiểu lò phản ứng hồ quang và lò phản ứng hồ quang mini của Iron Man hoạt động như thế nào. Tuy nhiên vẫn còn một số điều thú vị xung quanh nó mà khoa học có thể giải thích, ví dụ như ánh sáng xanh dịu nhẹ phát ra từ lò phản ứng.

Làm thế nào Arc Reactor của Iron Man (Có lẽ) Làm việc

Trên thực tế, ánh sáng phát ra từ lò phản ứng hồ quang mini rất giống với bức xạ Cherenkov. Đây là hiện tượng đặc biệt khi một hạt năng lượng (như electron) di chuyển trong một môi trường (nước hoặc không khí) với vận tốc nhanh hơn vận tốc ánh sáng trong môi trường đó. Không giống như bức xạ ánh sáng hồ quang điện (chói và sáng), bức xạ Cherenkov màu xanh dịu mát rất giống những gì chúng ta thấy trong phim.

Làm thế nào Arc Reactor của Iron Man (Có lẽ) Làm việc

Đây là hình ảnh của một lò phản ứng hạt nhân tạo ra bức xạ Cherenkov trong thực tế.

Một khía cạnh khác mà khoa học có thể giải thích là sự nhiễm độc do lò phản ứng hồ quang gây ra đối với Tony. Trong phim chúng ta có thể thấy Tony bị nhiễm độc và các mạch máu ở gần lò phản ứng bị chuyển thành màu xanh.

Như đã nói ở trên, quá trình phản ứng tạo ra rhodium và bạc. Theo một nghiên cứu y học thì việc chứa quá nhiều bạc trong máu có thể khiến cơ thể bị chuyển thành màu xanh xám. Chính trị gia Stan Jones tại Montana là một trong những người bị nhiễm độc bạc do dùng quá nhiều Keo Bạc (Colloidal Silver), một loại thuốc có chứa ion bạc giúp tiêu diệt vi khuẩn và virus.

Làm thế nào Arc Reactor của Iron Man (Có lẽ) Làm việc

Ông Stan Jones với gương mặt xanh xám do nhiễm độc bạc.

Bên cạnh đó rhodium là một chất kim loại nặng và có độc tính cao nếu tĩch lũy trong cơ thể. Theo nghiên cứu về chất này thì nó có khả năng gây ung thư cao, gây ra những vết rạn da lớn. Cũng chính vì vậy mà Tony đã phải tìm một chất thay thế cho palladium trong bộ áo giáp mới, có thể quá trình phản ứng vẫn giống với palladium, nhưng có thể làm tăng hiệu năng và giảm sự độc hại.

Như vậy, về cơ bản chúng ta có thể tạo ra một lò phản ứng hồ quang trong tương lai, dựa trên lò phản ứng nhiệt hạch hiện tại. Mặc dù việc kiểm soát nguồn năng lượng khổng lồ mà phản ứng này sản sinh không phải điều đơn giản. Tuy nhiên khoa học kỹ thuật tương lai có thể giải quyết được vấn đề này. Còn đối với một lò phản ứng hồ quang mini chỉ vừa lòng bàn tay và một bộ giáp đầy sức mạnh như trong phim có lẽ mãi chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng.

Tham khảo: gizmodo,wiki 1marvel.wikia