[Technology] Các nhà nghiên cứu Hà Lan xác lập kỷ lục mới về tốc độ truyền dữ liệu: 255 Terabits/s

Tinhte_soi_cap_quang_7_loi_2.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học công nghệ Eindhoven (TU/e), Hà Lan, tuyên bố đã phát triển thành công dạng cáp thế hệ mới với băng thông lớn gấp 21 lần so với chuẩn giao tiếp mạng hiện tại. Với dạng cáp nói trên, nhóm nghiên cứu đã lập kỷ lục mới với tốc độ truyền tải dữ liệu là 255 Terabits/s. Dạng cáp mới hứa hẹn sẽ giải quyết được vấn đề tắc nghẽn mạng cáp quang do nhu cầu sử dụng đang ngày càng tăng như hiện nay.

Ngày nay, mức tăng trưởng nhanh chóng của các dịch vụ Internet và sự ra đời của ngày càng nhiều các trung tâm dữ liệu, kéo theo nhu cầu sử dụng băng thông cũng tăng theo một cách đột biến. Để truyền được lượng dữ liệu lớn hơn bằng hệ thống cáp quang hiện tại, một lựa chọn được đề xuất là tăng cường độ tín hiệu để khắc phục những hao hụt vốn có trong quá trình truyền dữ liệu trên vật liệu sợi thủy tinh. Tuy nhiên, cách làm này vô tình tạo ra hiệu ứng quang học phi tuyến, khiến việc phục hồi thông tin sau quá trình truyền tải chỉ có thể được thực hiện trong một giới hạn nhất định.

Tinhte_soi_cap_quang_7_loi.
Dạng cáp mới với 7 loại lõi, mỗi lõi có thêm 2 chiều vuông góc, cho tốc độ truyền dữ liệu đạt 255 Terabits/s

Nhóm các nhà nghiên cứu tại TU/e, dẫn đầu bởi tiến sĩ Chigo Okonkwo và Rodrigo Amezcua Correa, đã chứng minh tiềm năng của một dạng cáp mới giúp tăng khả năng truyền tải dữ liệu và giảm thiểu ảnh hưởng khi tình huống tắc nghẽn xảy ra. Công trình nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Nature Photonics số ra mới đây.

Về cơ bản, dạng cáp mới bao gồm 7 lõi khác nhau thay vì chỉ có 1 lõi như trên thế hệ cáp quang hiện tại. Mỗi lõi đều có khả năng truyền dẫn ánh sáng. Chúng ta có thể hình dung dạng sợi mới như một con đường cao tốc với 7 làn đường khác nhau. Tuy nhiên, điểm đặc biệt là mỗi “làn đường” được bổ sung thêm 2 chiều vuông góc. Đồng thời các “làn đường phụ” cũng có khả năng truyền tải dữ liệu. Điều này cho phép “3 xe chở dữ liệu” có thể di chuyển trên cùng một “làn đường”. Kết quả cuối cùng, kỹ thuật này cho phép các nhà nghiên cứu có thể truyền được tổng cộng 255 Terabits dữ liệu mỗi giây, nhanh gấp 20 lần so với chuẩn hiện tại (4-8 Terabits/s). Con số này tương đương tốc độ khoảng 32Terabyte/s.

Tiến sĩ Chigo Okonkwo cho biết: “Dạng cáp mới có đường kính chưa tới 200 micromet nên sẽ không chiếm nhiều không gian như các hệ thống cáp trước đây. Tuy nhiên, tốc độ truyền tải dữ liệu của nó là thật sự đáng kinh ngạc. Mặt khác, đây chỉ là khởi đầu và khả năng trong tương lai, con số tốc độ có thể tăng lên tới hàng Petabits/s.” Đó cũng chính là mục tiêu chính trong chương trình nghiên cứu phát triển công nghệ truyền dữ liệu do Ủy ban liên minh châu Âu khởi xướng và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2020. Đồng thời, loại cáp mới còn tạo tiền đề cho nhiều kỷ lục khác được xác lập trong tương lai nhằm giải quyết nhu cầu băng thông internet toàn cầu đang tăng trưởng cực kỳ nhanh chóng như hiện nay.

Tham khảo Extremetech, NP, STR

[Technology] UC Riverside phát triển thành công siêu tụ điện graphene mới, hiệu năng gấp đôi các sản phẩm hiện có

siêu_tụ_điện_01.
Từ trái sang là các nhà nghiên cứu Mihrimah Ozkan, Cengiz Ozkan và Zachary Favors.

Các nhà nghiên cứu tại đại học California, Riverside (UCR) đã vừa phát triển một loại siêu tụ điện graphene sử dụng một cấu trúc nano để tăng gấp đôi hiệu suất năng lượng so với các sản phẩm thay thế hiện có trên thị trường. Phát hiện này là một bước tiến quan trọng khác nhằm mở ra tiềm năng sử dụng các siêu tụ điện trên những chiếc xe chạy điện (EV) và thiết bị điện tử cá nhân với hiệu năng cao và sạc nhanh.

Siêu tụ điện là các thiết bị lưu trữ năng lượng rất ổn định và bền với mật độ năng lượng cao (điện năng/đơn vị khối lượng) nhưng năng lượng riêng rất thấp (năng lượng lưu trữ/đơn vị khối lượng). Điều này có nghĩa siêu tụ điện có thể cung cấp một lượng lớn điện năng nhưng chỉ trong vài giây một lần.

Một nhóm các nhà nghiên cứu dẫn đầu bởi giáo sư Cengiz S. Ozkan tại UCR mới đây đã phát triển một thiết kế mới cho siêu tụ điện với mức năng lượng riêng 39,3 Wh/kg và mật độ năng lượng 128 kW/kg, gần gấp đôi hiệu năng của các siêu tụ điện thương mại về cả 2 chỉ số.

siêu_tụ_điện_02.

Để đạt được điều này, nhóm nghiên cứu đã tạo ra một khối bọt có cấu trúc lỗ rỗ chứa các ống nano carbon. Các lỗ hổng nano mang lại một diện tích tiếp xúc lớn để giúp các chất điện phân thấm qua dễ dàng và cho phép nó lưu trữ năng lượng dày đặt hơn so với các thiết kế thông thường.

Khối bọt được tạo ra bằng quy trình lắng đọng hơi hoá học của graphene và các ống nano carbon trên một chất nền bằng niken (Ni) và tiếp tục lắng đọng các hạt nano ruthenium oxide ngậm nước (RuO2), trong đó mỗi hạt có kích thước dưới 5 nm. Bên trong khối bọt, graphene vừa đóng vai trò thu thập dòng điện vừa đóng vai trò là một lớp đệm để dẫn electron và cách ly khối bọt khỏi chất điện phân.

Một trong những ưu thế của siêu tụ điện so với pin thông thường là hiệu suất sạc/xả ưu việt và thiết kế siêu tụ điện của UCR không phải là ngoại lệ. Kỳ lạ hơn, điện dung của nó không chỉ ổn định hơn mà còn thực sự được cải thiện thêm 6% sau 8100 lần sạc/xả. Các nhà nghiên cứu tin rằng sự cải thiện này có được là nhờ tính năng điện hoá của các vật liệu hoạt hoá.

Hiệu năng cao, độ ổn định và dễ chế tạo của hệ thống này khiến nó rất có tiềm năng để sản xuất với số lượng lớn trong tương lai. Và mặc dù năng lượng riêng của nó vẫn chưa thể so sánh với công nghệ pinLi-ion nhưng đây là một bước đi quan trọng để phát triển đúng hướng.

Báo cáo chi tiết về siêu tụ điện của UCR đã vừa được đăng tải trên tạp chí Nature Scientific Reports.

Nguồn: UC Riverside

[Technology] Các nhà nghiên cứu chế tạo thành công dây điện vừa truyền vừa lưu trữ năng lượng

Dây_siêu_điện_dung.

Mới đây 2 nhà nghiên cứu đến từ đại học Central Florida (UCF) đã tìm ra một phương pháp sử dụng công nghệ nano để tạo ra các dây điện với điện dung cực lớn. Mục tiêu sau cùng của họ là tạo ra một loại dây điện vừa có khả năng truyền dẫn, vừa có thể lưu trữ năng lượng như pin.

Giáo sư Jayan Thomas và nghiên cứu sinh tiến sĩ Zenan Yu sử dụng kỹ thuật “nuôi trồng” các sợi nano đồng oxit trong phòng thí nghiệm để thiết kế loại dây điện đặc biệt nói trên. Các sợi này có thể mang lại liên kết dẫn giữa lớp trong và lớp ngoài của dây điện siêu điện dung.

Khởi đầu, nhóm nghiên cứu phát triển một lớp sợi nano từ đồng oxit được cách ly trên lớp ngoài cùng của một sợi dây đồng. Sau đó, các sợi nano được xử lý với hợp kim vàng-palladium và cuối cùng, một lớp phủ mangan oxit hoạt động điện hóa được kết tụ trên hợp kim. Kết quả là các sợi nano sẽ đóng vai trò là một lớp vỏ bao quanh dây đồng và hình thành điện cực đầu tiên.

Để bổ sung điện cực thứ 2 nhằm mang lại khả năng lưu trữ năng lượng, nhóm nghiên cứu đã phủ điện cực đầu tiên với một chất điện phân thể rắn và một lớp ngăn cách bằng polymer, sau đó lắp một điện cực khác hình trụ tròn xung quanh nó. Điện cực thứ 2 được hình thành theo cách tương tự điện cực đầu tiên nhưng các sợi nano lại được đính vào một lá đồng để hoạt động như một trục dẫn xung quanh lớp ngoài.

Ứng dụng thực tế của dây điện siêu điện dung là giúp các thiết bị lưu trữ năng lượng và các hệ thống trở nên linh hoạt hơn, đeo được và có thể tích hợp trực tiếp vào quần áo cũng như vải dệt. Những sợi cáp siêu tụ điện có thể uốn cong cũng có thể được dùng cho các thiết bị điện tử và khiến chúng nhỏ hơn và di động hơn bằng việc giảm thiểu đáng kể kích thước pin hoặc tích hợp các dây lưu trữ năng lượng vào thiết bị nhằm thay thế cho pin.

Mặc dù vẫn cần được cải tiến nhưng kỹ thuật “nuôi trồng” các sợi nano của nhóm nghiên cứu có thể được áp dụng trên nhiều loại vật liệu khác không chỉ riêng đồng. Nhóm nghiên cứu cho rằng khi công nghệ phát triển hơn, các loại sợi và cáp bằng chất liệu khác có thể được phát triển với cấu trúc nano tương tự để có thể truyền dẫn và lưu trữ năng lượng.

Nguồn: UCF

[Technology] Đại học Illinois tạo ra graphene chất lượng cao bằng hệ thống phun siêu âm

Graphene.

Bằng việc sử dụng vòi phun siêu âm có trên động cơ phản lực và tên lửa đẩy, các nhà nghiên cứu tại đại học Illinois tại Chicago đã tìm ra một phương pháp đơn giản và không tốn kém để sản xuất các phiến graphene chất lượng cao, không khiếm khuyết trên một loạt các loại chất nền.

Phương pháp được phát triển dưới sự hợp tác giữa đại học Illinois và một số nhà nghiên cứu đến từ Hàn Quốc. Về cơ bản, các nhà nghiên cứu đã sử dụng graphene huyền phù có sẵn trên thị trường (một chất lỏng chứa graphene chất lượng thấp phân tán) và sau đó sử dụng các đầu phun siêu âm để làm lắng graphene trên một chất nền. Từ đây, họ đã có thể thu được graphene dạng phiến thành phẩm mà không cần xử lý gì thêm.

Thông thường, quy trình sẽ khiến graphene được phủ không đều trên chất nền ở dạng huyền phù. Tuy nhiên, khi được phun ở tốc độ siêu âm, graphene đập vào chất nền với động năng đủ lớn khiến nó được trải đều hoàn hảo thành một tấm graphene với độ dày chỉ bằng một nguyên tử. Alexander Yarin – đồng chỉ đạo nghiên cứu cho biết: “Hãy tưởng tượng một thứ gì đó giống như cục cao su dẻo Silly Putty được ném vào tường – nó sẽ dãn ra và trải đều mượt mà. Đây là những gì chúng tôi tin đã xảy ra với các lớp graphene. Chúng va vào chất nền với động năng cực lớn và dãn ra theo mọi hướng. Chúng tôi đang khai thác tính dẻo của graphene và nó thật sự được tái kết cấu.”

Các nhà nghiên cứu cho biết chìa khóa của quy trình là vòi phun Laval – một dạng vòi phun siêu âm có hình đồng hồ cát kéo dãn 2 đầu. Điểm thắt ở giữa khiến chất lòng đạt gia tốc lớn đến tốc độ siêu âm và sau đó thoát ra ngoài. Loại vòi phun này thường được sử dụng trong tên lửa và động cơ phản lực để tăng tốc khí nén và tạo ra nhiều lực đẩy hơn. Trong trường hợp với graphene, graphene huyền phù được gia tốc để đạt động năng đủ để kích hoạt hiệu ứng Silly Putty.

Do chỉ dựa vào kỹ thuật phun siêu âm mà không cần đến các quy trình hậu xử lý, các nhà nghiên cứu cho biết phương pháp có thể được sử dụng để phủ graphene trên nhiều vật liệu khác nhau và có thể định hình với graphene chất lượng cao. Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu sẽ tăng tỉ lệ của phương pháp với hy vọng phát triển các ứng dụng graphên với quy mô công nghiệp.

Nguồn: ExtremeTech

[Technology] Apple đang tham gia một cuộc chiến mà hãng không thể thắng với Messages?

iMessage. ​

Tại buổi thuyết trình của mình trong khuôn khổ sự kiện WWDC mới diễn ra, Apple đã nói rằng “Messages là ứng dụng được sử dụng thường xuyên nhất trên iOS“. Với những tính năng mà hãng vừa bổ sung cho dịch vụ nhắn tin này, Apple đã cho thấy rõ rằng hãng sẽ tiếp tục duy trì sự thường xuyên đó, thậm chí đẩy nó lên một mức cao hơn. Messages giờ đây sở hữu nhiều tính năng hấp dẫn không thua kém gì những dịch vụ nhắn tin Over-The-Top (OTT) như Zalo, WhatsApp, Viber, Snapchat, Facebook Messenger cùng hàng loạt tên tuổi lớn nhỏ khác.

Messages giờ đây không chỉ cho phép chúng ta nhắn tin mà còn gửi những đoạn thu âm ngắn giữa nhiều người dùng với nhau, giống Zalo, WhatsApp và Facebook Messenger. Những tin âm thanh hoặc video gửi lên Messages sẽ tự động biến mất sau một khoảng thời gian nhất định trừ khi người dùng nhấn nút “Keep”, một tính năng đã từng có mặt trên Snapchat. Chưa hết, giống Path, bạn có thể chia sẻ địa điểm của mình, và giống như Moped, bạn có thể xem danh sách những hình ảnh đã chia sẻ bên trong cuộc hội thoại. Nói cách khác, Apple đã gom nhiều tính năng nổi bật của các đối thủ và đưa hết vào Messages, giúp cho dịch vụ này trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Bên cạnh đó, hãng còn thêm vào những các thao tác mà chúng ta hay thấy ở các app OTT, ví dụ như việc chạm để ghi hình, chạm và giữ nút ghi âm để gửi tin voice, trượt ngón tay để gửi tập tin… Với những nước đi như thế này, Apple đã chứng minh cho thế giới rằng họ không chỉ đề cao những tính năng xã hội mà còn chú ý đến những cách thức thiết kế giao diện người dùng phổ biến và sẵn sàng áp dụng chúng nhanh nhất có thể.

Messages.PNG
Chưa hết, giờ đây người dùng iOS 8 còn có thể trả lời tin nhắn mà chẳng cần phải mở khóa điện thoại. Chỉ bằng việc đưa điện thoại lên tai, bạn có thể nghe các tin nhắn giọng nói từ bạn bè, sau đó trả lời lại mà không cần đụng ngón tay vào màn hình. Những cải tiến với khả năng tự động gợi ý từ của bàn phím ảo cũng là một thứ thu hút bởi nó sẽ tự động học văn phong của người dùng trong quá trình sử dụng, và văn phong này chắc chắn khác với khi viết email. Như lời của Apple thì “giọng văn của bạn trong một bức thư có lẽ sẽ khác với giọng văn dùng trong lúc chat”. Những sự tích hợp này hiện mới chỉ xuất hiện trong các ứng dụng của Apple, trong trường hợp này là Messsages, giúp hãng có được lợi thế về mặt tiện ích so với các đối thủ.

Thực sự mà nói thì những tính năng như thế này cũng rất dễ để sao chép giữa các ứng dụng với nhau. Như cách mà người ta thường nói thì thời đại này là “tôi lấy của anh, anh lấy của tôi”, nhất là trong thị trường phần mềm.

Trong khi đó, từ năm 2007 đến nay ứng dụng Messages gần như chẳng thay đổi gì so với lần đầu tiên nó xuất hiện trên iPhone, mãi đến WWDC năm nay chúng ta mới được chứng kiến Apple đem hàng tá những đặc điểm từ các đối thủ lên Messages. Điều này cho thấy rằng Apple đang suy nghĩ khác đi về việc nhắn tin, và có lẽ đây cũng là lần đầu tiên hãng tự đặt ra câu hỏi về những gì có khả năng làm cho Messages trở thành ứng dụng được xài nhiều nhất trên điện thoại.

Tuy nhiên, Messages có một nhược điểm chết người, và cũng là điểm yếu lớn nhất khiến Messages thua kém so với các đối thủ: không hỗ trợ đa nền tảng. Dịch vụ nhắn tin hiện chỉ mới hoạt động trên OS X và iOS, còn người dùng Windows, Windows Phone, Android thì xin chia buồn. Trong khi đó, Viber, Zalo, WhatsApp, Facebook Messenger… đều đã có app cho rất nhiều hệ điều hành khác nhau, thậm chí một số còn cung cấp giao diện nền web để truy cập dễ dàng hơn từ mọi thiết bị. Có thể ở Mỹ, nơi iPhone có thị phần lớn, Messages sẽ thành công, nhưng còn ở nhiều nơi khác trên thế giới thì không như thế. Vì sao người dùng lại chọn một dịch vụ mà không chắc rằng bạn bè của mình ai ai cũng có thể xài được? Tại sao họ không sử dụng những app đa nền tảng khác có phải là dễ dàng hơn không?

Từ trước đến nay Apple có truyền thống đó là không cung cấp ứng dụng của mình cho các nền tảng đối thủ, nếu có thì chỉ ưu ái cho mỗi iCloud với phần mềm đồng bộ dành cho Windows mà thôi. Chính vì thế, khó có khả năng Apple sẽ cung cấp ứng dụng Messages cho Android, Windows Phone hay Windows, mà nếu có đi nữa thì thời gian từ đây đến đó cũng còn rất rất lâu.

Nói cách khác, dịch vụ nhắn tin chỉ hỗ trợ cho một hệ sinh thái duy nhất thì không thể nào thắng được. Thứ mà người dùng cần đó là sự tiện lợi, là khả năng kết nối với nhiều bạn bè nhất có thể, là khả năng nhắn tin và đảm bảo đầu bên kia nhận được nội dung. Dù cho Messages có nhiều tính năng hay tới cỡ nào, giao diện có hấp dẫn đến đâu Apple cũng không thể nào thắng được nếu chỉ quyết tâm cung cấp dịch vụ cho OS X và iOS. Còn nếu kiên trì đi theo còn đường này, hãng sẽ phải làm nhiều hơn là việc bổ sung tính năng mới để có thể cứu lấy tham vọng về ứng dụng nhắn tin của mình.

Tham khảo: The Verge

[Technology] Chiếc taxi không gian mới của trùm công nghệ Elon Musk

Nếu như trước đây chúng ta chỉ thấy những phi thuyền không gian nhỏ gọn trong truyện tranh viễn tưởng thì nay chúng ta có thể chiêm ngưỡng chúng tại Hawthorne, California. Phi thuyền Dragon V2 (Version 2) sản xuất bởi tập đoàn công nghệ thám hiểm không gian SpaceX có thể đi lên trạm vũ trụ quốc tế và tự hạ cánh tại bất cứ đâu trên trái đất.

Phi thuyền Dragon v2. Ảnh : slashgear.com

Elon Musk, người sáng lập SpaceX cho biết, “đây thật sự là một bước nhảy vọt về công nghệ”. Hiện tại, chi phí để đưa các phi hành gia ra ngoài vũ trự là 70 triệu USD/ người sử dụng tàu Soyuz của Nga. Tuy nhiên SpaceX sẽ cạnh tranh với người Nga và với nhiều công ty khác như Boeing, Blue Origin, Sierra Nevada để hướng tới thương mại hóa việc đưa con người lên không gian trong 2 – 3 năm tới.

Hình ảnh phóng tàu vũ trụ Soyuz của Nga. Ảnh : mrwallpaper.com

Trước khi có Dragon V2, SpaceX đã chế tạo ra phi thuyền Dragon, là phi thuyền tư nhân đầu tiên đưa hàng hóa lên trạm không gian ISS và quay trở về trái đất (2012). Dragon thay thế cho dạng phi thuyền vận chuyển Cygnus, chỉ dùng được một lần và bốc cháy khi trở về quỹ đạo.

Dragon V2 cải tiến từ Dragon và có thể chở lên tới 7 phi hành gia. Musk nhấn mạnh hai điểm ưu việt của Dragon V2: chiếc phi thuyền này có thể tự tiếp cận trạm không gian ISS mà không cần nhờ cánh tay robot của trạm hỗ trợ. Phi thuyền còn có thể tự hạ cánh theo kiểu máy bay trực thăng, thay vì phải sử dụng dù và lợi dụng mặt nước biển để giảm tốc. Điều này khiến cho Dragon V2 có thể hạ cánh tại bất cứ đâu, nhanh chóng được sử dụng lại, hạ đáng kể giá thành cho việc di chuyển lên vũ trụ.

Khoang của Dragon 2 chứa được 7 phi hành gia. Ảnh : theaviationist.com

Kể từ khi chương trình tàu không gian của NASA phải đóng cửa (2011) do các tai nạn của tàu không gian, NASA đã hợp tác với nhiều công ty như SpaceX, Boeing, Blue Origin, SpaceX nhằm phát triển thế hệ tàu không gian mới rẻ hơn và tiện lợi hơn. Với những bước nhảy vọt về công nghệ như DragonX, chúng ta có thể tin rằng tương lai khi con người đi vào không gian như đi taxi không còn xa nữa.

NASA còn cho biết họ đang xây dựng những tàu không gian có thể đưa con người vào sao Hỏa trong những năm 2030.

[Technology] Nest Labs, con át chủ bài của Google ở thị trường nhà thông minh

Khởi sự vào năm 2010, Nest Labs là một startup chuyên sản xuất các thiết bị gia dụng thông minh có kết nối Internet, bao gồm bộ điều chỉnh nhiệt có khả năng tự học hỏi thói quen của người dùng Nest Learning Thermostats, và thiết bị cảnh báo khói và khí CO Nest Protect. Bốn năm sau đó, vào đầu năm 2014, Google đã quyết định chi ra 3.2 tỷ USD để thâu tóm Nest. Tính về giá trị, đây là thương vụ lớn thứ hai trong lịch sử của gã khổng lồ công nghệ, chỉ đứng sau con số 12.5 tỷ USD mà hãng đã bỏ ra cho Motorola. Vậy đâu là cơ sở để Google quyết định chi ra số tiền khổng lồ đó?

Nest Labs với tham vọng thống trị thị trường nhà thông minh của mình. Ảnh : amazonsupply.com

Từ startup trong garage mang hình bóng của Apple

Giống như rất nhiều startup khác tại Palo Alto, California, Nest Labs được hình thành ngay trong một garage nhỏ được thiết kế theo phong cách craftsman đặc trưng của người Mỹ, nhưng sự khác biệt của Nest lại tới từ hai nhà đồng sáng lập Tony Fadell và Matt Rogers – hai cựu nhân viên của Apple. Fadell từng đứng đầu nhóm phát triển thiết bị nghe nhạc của Apple, được biết đến rộng rãi với vai trò “cha đẻ của iPod”, trong khi Rogers bắt đầu sự nghiệp tại đây năm 2004 như một kỹ sư thực tập. Chính những năm tháng làm việc tại Apple đó đã để lại dấu ấn rõ nét trong cách mà cả hai tạo đã nên Nest Labs.

Sản phẩm của Nest chịu ảnh hưởng lớn từ phong cách thiết kế đến triết lý làm sản phẩm của Apple. Giống như những gì Apple đã làm với điện thoại di động và thiết bị nghe nhạc cá nhân, Nest không phải là công ty tiên phong giới thiệu bộ điều chỉnh nhiệt, nhưng họ đã đưa sản phẩm này lên một tầm cao mới thông qua những cải tiến đột phát. Trước khi Nest Labs ra đời, hàng năm ở Mỹ đã có 10 triệu bộ điều chỉnh nhiệt được bán ra. Theo thông tin từ cục điều tra dân số Mỹ năm 2012, nước Mỹ hiện có 130 triệu hộ, một thị trường đã đủ lớn và hấp dẫn để Nest đầu tư và tái phát minh lại bộ điều chỉnh nhiệt cho các hộ gia đình.

Thật vậy, trả lời phỏng vấn tờ Entrepreneur, Rogers cho biết: “Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là, bỏ qua tất cả các sản phẩm từng xuất hiện trên thị trường, sản phẩm của chúng ta sẽ phải đột phá như thế nào?” Cả hai đã dành ra sáu tháng để mua và lắp đặt các thiết bị của đối thủ trong ngành, nghiên cứu những kênh bán hàng và mô hình kinh doanh mới. Kinh nghiệm làm việc tại Apple với 18 lần điều chỉnh iPod, 5 lần cải tiến iPhone và thiết kế lên iPad đời đầu đã giúp 2 nhà đồng sáng lập Nest Labs rất nhiều trong việc tạo nên một sản phẩm đột phá trong lĩnh vực nhà thông minh.

Tính đến tháng 1 năm 2014, Nest Labs đang bán ra từ 40 đến 50 nghìn sản phẩm hàng tháng, đứng đầu danh sách bán chạy nhất ở trong phân mục Building Supplies của Amazon.com, vượt qua cả các sản phẩm phổ thông khác như bộ điều khiển đóng mở cửa gara. Bỏ xa các đối thủ khác, Nest đã xây dựng được một nền tảng vững chắc trước cả khi thị trường nhà ở với các thiết bị được kết nối Internet (connected home) định hình hoàn chỉnh. Nest Learning Thermostats còn được kỳ vọng là người thay đổi cuộc chơi trong thị trường còn đầy tiềm năng này, giống như những gì iTunes đã làm được với thị trường âm nhạc thế giới. Với khả năng kết nối Wifi và đóng vai trò như bộ não của căn nhà thông minh, tiềm năng của Nest còn vượt xa hơn việc là một thiết bị điều chỉnh nhiệt độ đơn thuần.

Điều chỉnh Nest Thermostat thông qua smartphone. Ảnh : greenenergycs.net

Tới tham vọng thống lĩnh thị trường nhà ở thông minh của Google

Nhà thông minh (smarthome, connected home) là một thị trường mới mẻ và mang tính cơ bản của một trào lưu lớn khác trên thế giới hiện nay : Internet of Things (IoT). IoT là một khái niệm dùng để chỉ tất cả các vật hay thiết bị được cung cấp các định danh trong hệ thống và có khả năng tự động kết nối, truyền tải dữ liệu thông qua một mạng lưới mà không cần sự tương tác giữa con người với con người, hoặc con người với máy tính. Theo Gartner, trước năm 2020, sẽ có 26 tỷ thiết bị tham gia vào mạng lưới này, và theo báo cáo của Progressive Policy, IoT được dự báo sẽ đóng góp từ 600 tỷ tới 1.3 nghìn tỷ USD cho nền kinh tế Mỹ vào năm 2025.

Được biết đến từ lâu như một công ty luôn đi đầu trong việc thúc đẩy sự phát triển của IoT, nhưng những nỗ lực của Google trong việc đưa các thiết bị kết nối Internet vào từng hộ gia đình lại không mấy thành công. Gã khổng lồ công nghệ từng gặp phải sự lạnh nhạt của khách hàng khi ra mắt Google TV do không đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, hay những thiết bị như Google Chromecast cũng chỉ đạt được những thành công rất khiêm tốn. Bất chấp việc hỗ trợ đưa nền tảng Android vào các thiết bị gia dụng đang dần mang lại hiệu quả, Google chưa bao giờ là kẻ thống lĩnh thị trường trong mảng này.

Với thương vụ 3.2 tỷ USD để thâu tóm lại Nest Labs, Google kỳ vọng sẽ có một chỗ đứng vững chắc hơn trong ngành. Google hoàn toàn có thể tận dụng sức mạnh và năng lực kỹ thuật của Nest, kết hợp với tiềm lực hùng hậu của mình để phát triển thế hệ tiếp theo của các thiết bị gia dụng kết nối Internet, đẩy nhanh quá trình phổ biến IoT. Giống như những gì đã làm được với các thiết bị điện toán di động khi thâu tóm Android, với Nest, Google sẽ có bước nhảy vọt về khả năng cạnh tranh, trở thành người đi đầu nắm giữ nhiều lợi thế trong thị trường IoT, giúp công ty chiếm được thị phần lớn hơn trong miếng bánh 600 tỷ USD đầy béo bở.

Tuy vậy, cũng tồn tại không ít lo ngại về thương vụ này, chủ yếu liên quan đến việc xâm phạm quyền riêng tư của người dùng. Hoặc mới gần đây là việc Google phải thu  hồi hàng ngàn thiết bị báo cháy Nest Protect do vấn đề lỗi kỹ thuật. Về vấn đề riêng tư, không ít đối thủ đã lên tiếng cảnh báo các thiết bị như Nest Learning Thermostats hay Nest Protect có khả năng thu thập thông tin về thói quen của người dùng, và Google sẽ có thể sử dụng những thông tin đó để gây ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng, hay thậm chí là điều chỉnh lối sống của người sử dụng.  Tuy vẫn còn quá sớm để dự báo về tương lai phát triển của Nest Labs dưới sự quản lý của Google, nhưng những cảnh báo này không phải là không có cơ sở, đặc biệt là trong bối cảnh những lo ngại dâng cao về việc những công ty như Google đã và đang nắm giữ quá nhiều thông tin cá nhân của người dùng.